Cơ sở Lý luận và Thực tiễn của Chế định Trưng cầu Ý dân

Luận án tiến sĩ phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định trưng cầu ý dân ở Việt Nam. Nghiên cứu về lịch sử, vai trò và giải pháp hoàn thiện chế định này.

Trường đại học

Đại học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2020

180
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Trưng cầu Ý dân Khái niệm Ý nghĩa

Trưng cầu ý dân (TCYD) là một hình thức thực thi dân chủ trực tiếp, cho phép người dân tham gia vào quản lý nhà nước và quyết định các vấn đề hệ trọng của quốc gia. Nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng TCYD như một công cụ hiệu quả để đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân. Tại Việt Nam, Hiến pháp 2013 đã tái khẳng định chế định này, tạo cơ sở pháp lý cho người dân thực hiện các hình thức dân chủ trực tiếp. Việc xây dựng và ban hành các quy định cụ thể về TCYD là cần thiết để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn khách quan, hội nhập quốc tế và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Mặc dù TCYD có nhiều ưu thế so với dân chủ đại diện, nhưng việc thực hiện chế định này cũng gặp nhiều khó khăn. Việt Nam chưa có kinh nghiệm thực tiễn về dân chủ trực tiếp, nên việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về TCYD cần thận trọng và có sự xem xét, đánh giá, tổng kết.

1.1. Định nghĩa Chế định Trưng cầu Ý dân theo Khoa Luật

Theo giới luật học, chế định trưng cầu ý dân được hiểu là một tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và thực hiện trưng cầu ý dân. Chế định này bao gồm các yếu tố như: chủ thể có quyền trưng cầu ý dân, phạm vi trưng cầu ý dân, quy trình, thủ tục trưng cầu ý dân, hiệu lực của kết quả trưng cầu ý dân. Việc định nghĩa rõ ràng giúp xác định phạm vi và nội dung nghiên cứu một cách chính xác.

1.2. Ý nghĩa Trưng cầu Ý dân trong Xây dựng Nhà nước Pháp quyền

TCYD có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền, thể hiện ở việc củng cố quyền lực nhân dân, tăng cường tính hợp pháp và sự đồng thuận xã hội đối với các quyết định của nhà nước, nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước, và thúc đẩy sự tham gia của người dân vào quá trình quản lý nhà nước. Sự tham gia tích cực giúp đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước.

II. Thách thức Rào cản Thực thi Trưng cầu Ý dân ở VN

Mặc dù về mặt lý thuyết, trưng cầu ý dân có nhiều ưu thế hơn so với các hình thức dân chủ đại diện, nhưng về mặt thực tiễn, việc thực hiện chế định này cũng gặp phải nhiều rào cản, khó khăn nhất định. Đây cũng là một trong những nguyên nhân mà chính phủ của nhiều quốc gia còn quan ngại chưa muốn áp dụng hình thức này một cách đại trà, phổ biến. Thực tế tại Việt Nam cho thấy chúng ta chưa từng tổ chức bất cứ hoạt động trưng cầu ý dân nào từ xưa đến nay, cũng chưa có bất cứ kinh nghiệm thực tiễn về dân chủ trực tiếp. Chính vì vậy, trong điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội hiện nay, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân chủ trực tiếp, từng bước đưa các quy định vào thực thi trong thực tiễn là việc làm cần thiết song cũng cần thận trọng và có sự xem xét, đánh giá, tổng kết để mô hình này phát huy hiệu quả như mong muốn.

2.1. Thiếu Kinh nghiệm thực tiễn về Dân chủ Trực tiếp tại Việt Nam

Việt Nam chưa từng tổ chức bất kỳ hoạt động trưng cầu ý dân nào. Điều này dẫn đến thiếu kinh nghiệm thực tiễn về tổ chức, quản lý và đánh giá hiệu quả của TCYD. Việc xây dựng khung pháp lý và quy trình thực hiện TCYD hiệu quả đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ lưỡng và thử nghiệm thận trọng. Hơn nữa, cần có các chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức cho người dân về quyền và trách nhiệm của mình trong quá trình TCYD.

2.2. Những Quan ngại về Tính khả thi Hiệu quả của TCYD

Chính phủ của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, còn quan ngại về tính khả thi và hiệu quả của TCYD. Các quan ngại này bao gồm: chi phí tổ chức TCYD lớn, nguy cơ bị lợi dụng để gây bất ổn chính trị, khó khăn trong việc đảm bảo tính khách quan và trung thực của kết quả TCYD, và khả năng người dân không có đủ thông tin và kiến thức để đưa ra quyết định đúng đắn. Việc giải quyết các quan ngại này là yếu tố then chốt để thúc đẩy việc áp dụng rộng rãi TCYD.

2.3. Rào cản về Pháp lý Cơ chế thực hiện Trưng cầu Ý dân

Hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có đầy đủ các quy định chi tiết và cụ thể về TCYD. Các quy định hiện hành còn chung chung và thiếu tính khả thi. Cần xây dựng một cơ chế thực hiện TCYD minh bạch, công khai và hiệu quả, đảm bảo quyền tham gia của người dân và tính hợp pháp của kết quả TCYD. Hơn nữa, cần có cơ chế giám sát và kiểm tra việc thực hiện kết quả TCYD.

III. Hướng dẫn Cách Hoàn thiện Pháp luật Trưng cầu Ý dân

Hoàn thiện pháp luật về trưng cầu ý dân là một yêu cầu cấp thiết để đảm bảo quyền dân chủ trực tiếp của người dân và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành để đảm bảo tính đồng bộ, minh bạch và khả thi. Đồng thời, cần xây dựng các quy trình, thủ tục cụ thể để thực hiện TCYD một cách hiệu quả. Việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế và tổng kết thực tiễn trong nước là rất quan trọng.

3.1. Rà soát Sửa đổi Luật Trưng cầu Ý dân năm 2015

Luật Trưng cầu ý dân năm 2015 cần được rà soát và sửa đổi để khắc phục những bất cập, thiếu sót. Cần làm rõ phạm vi TCYD, quy định cụ thể về quy trình, thủ tục TCYD, và tăng cường cơ chế giám sát và kiểm tra việc thực hiện kết quả TCYD. Đặc biệt, cần chú trọng đến việc đảm bảo quyền tham gia của người dân và tính khách quan của kết quả TCYD.

3.2. Xây dựng Quy trình Quy trình Trưng cầu Ý dân chi tiết

Cần xây dựng một quy trình TCYD chi tiết và cụ thể, bao gồm các bước: đề xuất TCYD, chuẩn bị TCYD, tổ chức TCYD, kiểm phiếu và công bố kết quả TCYD, và thực hiện kết quả TCYD. Quy trình này cần đảm bảo tính minh bạch, công khai và dân chủ. Đồng thời, cần có cơ chế giải quyết tranh chấp và khiếu nại liên quan đến TCYD.

3.3. Nâng cao Nhận thức về Trưng cầu Ý dân cho Người dân

Cần nâng cao nhận thức của người dân về TCYD thông qua các chương trình giáo dục, tuyên truyền và phổ biến pháp luật. Người dân cần hiểu rõ quyền và trách nhiệm của mình trong quá trình TCYD. Đồng thời, cần khuyến khích sự tham gia tích cực của người dân vào các hoạt động TCYD. Sự tham gia của người dân là yếu tố then chốt để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả của TCYD.

IV. Phương pháp tăng Hiệu quả Trưng cầu Ý dân tại Việt Nam

Để tăng hiệu quả của Trưng cầu ý dân tại Việt Nam, cần kết hợp nhiều yếu tố, từ việc hoàn thiện pháp luật, xây dựng quy trình thực hiện, đến việc nâng cao nhận thức của người dân và tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và người dân.

4.1. Tăng cường Tham gia của Người dân trong TCYD

Cần tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia vào tất cả các giai đoạn của quá trình TCYD, từ việc đề xuất, chuẩn bị, đến việc tổ chức và thực hiện kết quả TCYD. Cần khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội vào việc vận động, tuyên truyền và giám sát TCYD.

4.2. Đảm bảo Tính minh bạch Khách quan trong Trưng cầu

Cần đảm bảo tính minh bạch và khách quan trong tất cả các khâu của quá trình TCYD. Cần công khai thông tin về các vấn đề được TCYD, quy trình TCYD, và kết quả TCYD. Đồng thời, cần có cơ chế giám sát và kiểm tra độc lập để đảm bảo tính trung thực của kết quả TCYD.

4.3. Sử dụng Công nghệ trong Quy trình Trưng cầu Ý dân

Ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình TCYD, như sử dụng hệ thống bỏ phiếu điện tử, trang web, ứng dụng di động để thu thập ý kiến của người dân. Cần đảm bảo an ninh mạng và tính bảo mật của thông tin cá nhân. Sử dụng công nghệ giúp cho quá trình TCYD trở nên nhanh chóng, tiện lợi và tiết kiệm chi phí.

V. Phân tích Thực tiễn áp dụng Trưng cầu Ý dân trên TG

Nghiên cứu và phân tích kinh nghiệm của các quốc gia khác trên thế giới trong việc thực hiện trưng cầu ý dân. Tìm hiểu về các mô hình TCYD khác nhau, các quy trình thực hiện, và những bài học kinh nghiệm thành công và thất bại. Việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế giúp Việt Nam có thể áp dụng TCYD một cách hiệu quả và phù hợp với điều kiện của mình.

5.1. Kinh nghiệm của Thụy Sĩ về Dân chủ Trực tiếp

Thụy Sĩ được coi là một trong những quốc gia có nền dân chủ trực tiếp phát triển nhất thế giới. Nghiên cứu về hệ thống TCYD của Thụy Sĩ, từ quy trình lập pháp, tổ chức trưng cầu, đến việc thực hiện kết quả. Tìm hiểu về những yếu tố thành công của Thụy Sĩ trong việc xây dựng và vận hành hệ thống dân chủ trực tiếp.

5.2. Mô hình Trưng cầu Ý dân tại Pháp Nga

Nghiên cứu về mô hình TCYD tại Pháp và Nga, hai quốc gia có những đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội khác biệt. Phân tích quy trình thực hiện TCYD, phạm vi áp dụng, và những hạn chế. So sánh và đối chiếu kinh nghiệm của hai quốc gia này để rút ra những bài học cho Việt Nam.

5.3. Bài học từ các Nước khác về Pháp luật Trưng cầu

Nghiên cứu về pháp luật về TCYD của các quốc gia khác trên thế giới. Tìm hiểu về các quy định về phạm vi TCYD, quy trình thực hiện, và cơ chế giám sát và kiểm tra. Học hỏi những kinh nghiệm tốt và tránh những sai lầm trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về TCYD ở Việt Nam.

VI. Luận án Tiến sĩ Đề xuất Giải pháp cho TCYD

Luận án Tiến sĩ về Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định trưng cầu ý dân không chỉ cung cấp một cái nhìn tổng quan về TCYD mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của TCYD tại Việt Nam. Luận án này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền.

6.1. Hoàn thiện Cơ sở Pháp lý cho Trưng cầu Ý dân ở VN

Luận án đề xuất các giải pháp để hoàn thiện cơ sở pháp lý cho TCYD, bao gồm việc sửa đổi Luật Trưng cầu ý dân, xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành, và ban hành các quy định về quy trình thực hiện TCYD. Cơ sở pháp lý vững chắc là nền tảng để thực hiện TCYD một cách hiệu quả và đảm bảo quyền của người dân.

6.2. Nâng cao Hiệu lực Thực thi của Chế định TCYD

Luận án đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu lực thực thi của chế định TCYD, bao gồm việc tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TCYD, xây dựng cơ chế giám sát và kiểm tra việc thực hiện kết quả TCYD, và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về TCYD. Hiệu lực thực thi là yếu tố quan trọng để đảm bảo TCYD không chỉ là hình thức mà còn mang lại hiệu quả thực tế.

6.3. Đề tài Nghiên cứu Giá trị của Trưng cầu Ý dân hiện nay

Luận án khẳng định vai trò, ý nghĩa và giá trị của TCYD trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền, đảm bảo quyền dân chủ của người dân, và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, luận án cũng chỉ ra những thách thức và khó khăn trong việc thực hiện TCYD tại Việt Nam, và đề xuất các giải pháp để vượt qua những thách thức này.

17/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Các nghiên cứu trong nước liên quan đến nội dung luận án Vấn đề trưng cầu ý dân nhìn chung vẫn còn là nội dung tương đối mới mẻ đối với người dân nước ta và cũng chỉ mới thu hút được sự quan tâm, tập trung nghiên cứu của các chuyên gia pháp lý trong nước trong thời gian gần đây. Có thể nhận thấy số lượng các công trình nghiên cứu về trưng cầu ý dân nói chung và chế định trưng cầu ý dân còn khá ít, chưa phong phú, đa dạng về phạm vi và nội dung nghiên cứu, chủ yếu tập trung ở một số chuyên gia hàng đầu của ngành luật học trong nước. Một số nội dung và tài liệu nghiên cứu về trưng cầu ý dân nổi bật có thể được ghi nhận thành hai nhóm chính như sau: 1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến trưng cầu ý dân Thứ nhất nghiên cứu về bản chất, nguyên tắc trưng cầu ý dân, sự cần thiết phải xây dựng nâng tầm lên thành chế định, ta có Nguyễn Như Phát, Tham vấn nhân dân về dự thảo Hiến pháp sửa đổi – bản chất và nguyên tắc thực hiện [40]; Trương Hồng Quang & Phạm Mai Diệp, Những vấn đề cơ bản về quyền phúc quyết [43]; Lê Thị Thiều Hoa, Bản chất quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân ở nước ta hiện nay [23]. Bài viết này được xem là một trong những công trình đầu tiên của giới luật học phân tích về trưng cầu ý dân dưới góc độ của phạm trù “tham vấn nhân dân”.

Tác giả đã sử dụng cụm từ “tham vấn nhân dân” để nêu bật vai trò, vị trí cần thiết của chế định này trong tiến trình đổi mới, phát huy dân chủ đất nước, giải thích làm rõ bản chất, ý nghĩa, một số nội dung chủ đạo của tham vấn nhân dân, đưa ra định nghĩa thống nhất, các thuộc tính của tham vấn, đúc kết năm nguyên tắc của tham vấn nhân dân. Trên cơ sở đó đề xuất cần phải từng bước xây dựng và ban hành văn bản pháp luật về tham vấn nhân dân trong tương lai gần vì trong một chế độ dân chủ, nhân dân có quyền tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước, có ý kiến trong mọi giai đoạn của quá trình lập hiến và lập pháp, phát hiện và đề xuất nhu cầu điều chỉnh pháp luật, nội dung điều chỉnh pháp luật, nội dung của các dự thảo và ở mức độ cao nhất quyết định thông qua văn bản pháp luật; không chỉ là đối tượng “bị động” được Nhà nước “lấy ý kiến”. Tác giả cũng khẳng định đây là yêu cầu khách quan, hợp quy luật của sự phát triển xã hội, đồng thời đề xuất một số ý tưởng và nội dung sơ bộ làm nền tảng cho việc nghiên cứu 8 và xây dựng văn bản pháp luật về trưng cầu ý dân sau này bao gồm: bản chất và ý nghĩa của tham vấn; nghĩa vụ tham vấn; đối tượng và phạm vi tham vấn; các hình thức và trách nhiệm phối hợp trong tham vấn; tổ chức hoạt động tham vấn; thời gian và thời hạn tham vấn; giám sát và đảm bảo tham vấn; nguyên tắc và phương pháp tổng hợp ý kiến; công tác tuyên truyền, thông tin và giải trình; nguồn lực phục vụ tham vấn; công bố kết quả tham vấn và phạm vi, mức độ sửa đổi của dự thảo sau khi tham vấn. Hai bài viết sau tập trung phân tích và giải thích về tất cả các vấn đề thuộc phạm trù “phúc quyết”, đưa ra khái niệm “phúc quyết” và “quyền phúc quyết”, so sánh điểm giống và khác nhau với “trưng cầu ý dân”.

Dưới góc độ là một trong những quyền của công dân các tác giả đã làm rõ phạm vi sử dụng quyền phúc quyết; phân loại các loại hình phúc quyết; đặc điểm và bản chất của quyền phúc quyết; nguồn gốc quyền phúc quyết và ý nghĩa chính trị - pháp lý của quyền phúc quyết đối với thực thi dân chủ hiện nay. Bài viết thứ ba nhìn nhận quyền tham gia quản lý nhà nước dưới góc độ là một trong những quyền dân chủ, tác giả đã đưa ra nhiều lập luận nhằm khái quát chung quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân, bản chất quyền tham gia vào hoạt động nhà nước của công dân, các yếu tố cơ bản làm nền tảng cho quyền làm chủ của nhân dân gồm: (1) nguyên lý chủ quyền nhân dân, tư tưởng lấy dân làm gốc, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân được Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo, phù hợp với đặc điểm, hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam; (2) quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân phản ánh rõ bản chất của Nhà nước ta và được coi là một quyền hiến định; (3) do yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân không chỉ được ghi nhận mà còn phải được đảm bảo thực thi nghiêm túc trên thực tế. Đây là những lập luận có giá trị để tác giả kế thừa, vận dụng trong phần cơ sở lý luận của luận án sau này. Thứ hai phân tích, đánh giá các quy định và những bài học kinh nghiệm trong thực thi trưng cầu ý dân tại một số quốc gia trên thế giới có những nghiên cứu nổi bật của Lương Minh Tuấn, Kinh nghiệm của Thụy Sĩ về dân chủ trực tiếp [63], nhóm tác giả 9 Trần Việt Dũng – Lê Tấn Phát, Phạm vi áp dụng trưng cầu ý dân trong pháp luật của Pháp và Nga: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam [11].

Theo tác giả Lương Minh Tuấn, Thụy Sĩ được đánh giá là một trong những quốc gia có số lượng lớn các cuộc trưng cầu ý dân cấp độ quốc gia và cả địa phương nhiều nhất trên thế giới. Qua bài viết tác giả giới thiệu về cơ cấu tổ chức của Nhà nước liên bang Thụy Sĩ, phân tích chuyên sâu về các công cụ của dân chủ trực tiếp tại đây bao gồm: trưng cầu ý dân bắt buộc, trưng cầu ý dân không bắt buộc (tùy nghi) ở cấp độ bang và cấp địa phương, nhân dân đưa ra sáng kiến (sáng quyền nhân dân), đánh giá sự tác động của các công cụ này đến hệ thống chính trị của Thụy Sĩ, những thành tựu và kinh nghiệm có thể kế thừa cũng như những bài học có thể tham khảo trong quá trình cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp 2013 về những vấn đề này. Ở bài viết thứ hai nhóm tác giả chủ yếu tập trung phân tích chi tiết về các quy định pháp luật và thực tế thực thi pháp luật về trưng cầu ý dân liên quan đến phạm vi trưng cầu, các vấn đề trưng cầu ý dân, một số kinh nghiệm và lưu ý trong pháp luật hiện hành ở Pháp và Nga, qua đó hai tác giả đã đưa ra một số đề xuất tích cực cho quá trình soạn thảo Luật trưng cầu ý dân tại Việt Nam. Thứ ba nghiên cứu trưng cầu ý dân là một trong những hình thức thực thi dân chủ trực tiếp hiệu quả và cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn đổi mới chính trị, tăng cường và phát huy dân chủ trong xã hội, chúng ta có các tác giả Nguyễn Minh Tuấn với Các hình thức dân chủ và việc mở rộng dân chủ ở Việt Nam [65] bài viết thảo luận về những tư duy căn bản về dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện như nguồn gốc, quá trình phát triển, ý nghĩa và ảnh hưởng đối với xã hội và người dân; khái quát hóa khả năng thực thi trong thực tế và phân loại cụ thể các hình thức phổ biến của cả hai loại hình dân chủ này.

Nếu như dân chủ trực tiếp theo tác giả gồm có 4 loại hình tiêu biểu mà đa số các quốc gia trên thế giới đang áp dụng gồm: trưng cầu ý dân (referendum), sáng kiến công dân (citizens’ initiatives), sáng kiến chương trình nghị sự (agenda initiatives) và bãi miễn (recall) thì dân chủ gián tiếp cũng có dân chủ ủy quyền tự do (free mandate), nhân dân ủy quyền nhưng không mất quyền làm chủ và các nhóm lợi ích khác nhau bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, cùng hoạch định chính sách, truyền tải ý chí nhân dân thành ý chí nhà nước. Từ đó người viết có sự phân tích và đánh giá 10 những ưu điểm và hạn chế của cả hai hình thức này và đề xuất hình thức “có khả năng kiềm chế được khiếm khuyết của hai hình thức dân chủ nói trên” [65,39] là dân chủ bán trực tiếp: người dân được quyền bầu chọn người đứng đầu địa phương đồng thời cũng có quyền tham dự, đề xuất dự luật, quyền tham gia trưng cầu ý dân, quyền quyết định và bãi nhiệm bất cứ ai trong chính quyền nếu như lợi ích của người dân bị đe dọa. Trên cơ sở đó tác giả đánh giá thực trạng thực thi dân chủ tại Việt Nam đồng thời đề xuất phương hướng nhằm mở rộng và phát huy dân chủ ở nước ta trong thời gian sắp tới cần phải tập trung vào một số vấn đề cốt lõi gồm: một xây dựng một hệ thống pháp luật công bằng, nhân đạo, hợp lẽ phải, phải ban hành được những văn bản pháp luật quy định về thực thi dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện cụ thể như: Luật trưng cầu ý dân, Luật thực hiện dân chủ ở xã phường, thị trấn. Hai thực hiện dân chủ ở cấp thấp nhất là nơi người dân thể hiện trực tiếp nhất quyền làm chủ của mình.

Ba người dân phải được bầu thiết chế có thực quyền nhất ở địa phương cụ thể là chức danh Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, vừa là người đại diện của nhân dân đồng thời là người chịu trách nhiệm trực tiếp và cao nhất đối với nhân dân địa phương bầu chọn nên mình, phải “chịu trách nhiệm trực tiếp toàn bộ về sự phát triển hay lụn bại về kinh tế - văn hóa – xã hội của xã [65,42]”. Bốn nhân dân phải được quyền quyết định thực chất các vấn đề địa phương. Năm mở rộng dân chủ trực tiếp không tách rời với việc mở rộng, đảm bảo các quyền cơ bản của công dân. Sáu cần đa dạng hóa các cách thức, phương thức tiếp cận dân chủ cho cả người dân và đội ngũ đại biểu Quốc hội.

Theo chúng tôi đây là những ý kiến đóng góp hết sức giá trị cho thực tiễn xây dựng và phát huy dân chủ tại địa phương và toàn quốc trong giai đoạn hiện nay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ