Nghiên cứu Nguyễn Duy Trung - Điều khiển tuabin thủy điện liên kết vùng logic mờ và nơron

Luận án nghiên cứu xây dựng hệ thống điều khiển tốc độ tuabin thủy điện liên kết vùng, ứng dụng logic mờ và mạng nơron nhân tạo để tối ưu hóa vận hành lưới

Tác giả

Nguyễn Duy Trung

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ kỹ thuật

2020

168
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về điều khiển tốc độ tuabin thủy điện liên kết vùng

Thủy điện đóng vai trò quan trọng trong hệ thống điện Việt Nam. Nguồn năng lượng này cung cấp công suất lớn, đáp ứng nhanh biến động tải. Hệ thống ngày càng mở rộng với nhiều nhà máy thủy điện liên kết vùng. Điều này đặt ra yêu cầu cao cho việc điều khiển tốc độ tuabin. Hệ thống thủy điện gồm nhiều thành phần chính. Đường ống áp lực dẫn nước từ hồ chứa đến tuabin. Bộ điều tốc điều chỉnh góc mở van cánh hướng. Máy phát điện chuyển đổi cơ năng thành điện năng. Mỗi thành phần có đặc tính động học riêng. Khi các vùng lưới điện liên kết, bài toán điều khiển phức tạp hơn. Dao động tần số lan truyền giữa các vùng. Cần phương pháp điều khiển tiên tiến để đảm bảo ổn định toàn hệ thống. Logic mờ và mạng nơron nhân tạo là hai công nghệ hứa hẹn. Chúng xử lý tốt tính phi tuyến của hệ thống. Kết hợp hai phương pháp tạo ra bộ điều khiển mạnh mẽ, thích ứng với nhiều chế độ vận hành khác nhau.

1.1. Vai trò của thủy điện trong hệ thống điện quốc gia

Thủy điện chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn điện Việt Nam. Nhà máy thủy điện có khả năng khởi động nhanh, điều chỉnh công suất linh hoạt theo nhu cầu tải. Điều này rất quan trọng cho ổn định tần số lưới điện. Hệ thống thủy điện phân bố rộng rãi trên các lưu vực sông lớn như Đà, Hồng, Mê Công. Công suất đơn vị dao động từ vài MW đến hàng nghìn MW. Mỗi nhà máy đều cần hệ thống điều khiển tốc độ hiệu quả. Thủy điện đóng vai trò điều tần chính trong hệ thống điện. Khi tải thay đổi đột ngột, tuabin thủy điện phản ứng nhanh. Bộ điều tốc giúp duy trì tần số ở mức 50Hz. Đây là yêu cầu kỹ thuật bắt buộc cho vận hành lưới điện an toàn.

1.2. Mô hình nhà máy thủy điện đơn vùng và liên kết vùng

Mô hình nhà máy thủy điện đơn vùng gồm các khâu nối tiếp. Đường ống áp lực có đặc tính nước đàn hồi. Bộ điều tốc servo điện-thủy lực điều khiển van cánh hướng. Tuabin thủy lực chuyển đổi năng lượng nước thành cơ năng. Máy phát điện tạo ra điện áp và tần số đầu ra. Mô hình liên kết vùng phức tạp hơn nhiều. Nhiều nhà máy thủy điện cùng phát lên lưới điện liên kết. Dao động công suất giữa các vùng tạo ra hiện tượng cộng hưởng. Đặc tính phi tuyến của tuabin và đường ống áp lực làm tăng độ phức tạp. Xây dựng mô hình toán học chính xác là bước quan trọng đầu tiên. Mô hình phải phản ánh đúng động học thực của hệ thống.

II. Phân tích bài toán điều khiển tần số hệ thống thủy điện liên kết vùng

Bài toán điều khiển tần số trong hệ thống thủy điện liên kết vùng có nhiều thách thức. Hệ thống có tính phi tuyến mạnh. Đường ống áp lực tạo ra hiện tượng nước búa. Tuabin thủy lực có đặc tính không tuyến tính theo tải. Khi nhiều vùng lưới điện liên kết, dao động tần số lan truyền nhanh. Mỗi vùng có đặc tính động học riêng biệt. Sự khác biệt về công suất và khoảng cách truyền tải gây ra mất ổn định. Bộ điều khiển truyền thống khó đáp ứng yêu cầu vận hành. Phương pháp PID thông thường có hạn chế lớn. Chúng được thiết kế cho một điểm vận hành cố định. Khi tải thay đổi rộng, hiệu suất điều khiển giảm rõ rệt. Dao động tần số có thể vượt giới hạn cho phép. Cần nghiên cứu phương pháp điều khiển mới. Phương pháp phải xử lý được tính phi tuyến và thích ứng với thay đổi của hệ thống. Logic mờ và mạng nơron nhân tạo là giải pháp tiềm năng cho bài toán phức tạp này.

2.1. Tính chất phi tuyến và biến đổi của hệ thống thủy điện

Hệ thống thủy điện có nhiều nguồn phi tuyến khác nhau. Đặc tính tuabin thay đổi theo công suất tải. Momen quay không tuyến tính với góc mở van cánh hướng. Đường ống áp lực có tính đàn hồi nước, tạo ra dao động áp suất phức tạp. Nhiệt độ nước và mực nước hồ chứa thay đổi theo mùa. Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất tuabin. Đặc tính máy phát điện cũng biến đổi theo chế độ tải. Mô hình tuyến tính chỉ đúng trong vùng hẹp quanh điểm làm việc. Khi tải thay đổi rộng, sai số mô hình tăng lên đáng kể. Điều này làm giảm hiệu quả điều khiển. Cần phương pháp xử lý phi tuyến hiệu quả và linh hoạt.

2.2. Thách thức điều khiển tốc độ tuabin liên kết nhiều vùng

Liên kết vùng tạo ra thách thức mới cho điều khiển tốc độ. Dao động công suất giữa các vùng gây mất ổn định hệ thống. Khoảng cách truyền tải dài làm tăng độ trễ thời gian. Tín hiệu điều khiển phải truyền qua nhiều cấp phân tầng. Mỗi vùng có đặc tính tải riêng biệt. Biến động tải ở vùng này ảnh hưởng đến vùng khác. Hiện tượng cộng hưởng có thể xảy ra nếu tần số dao động trùng nhau. Cần phối hợp điều khiển liên vùng hiệu quả. Bộ điều khiển phải xử lý nhiều biến số đầu vào cùng lúc. Tần số, công suất, điện áp đều cần giám sát liên tục. Không gian trạng thái của hệ thống liên kết rất lớn. Đây là thách thức lớn cho thiết kế điều khiển truyền thống.

III. Giải pháp điều khiển tuabin thủy điện bằng logic mờ và mạng nơron

Logic mờ và mạng nơron nhân tạo cung cấp giải pháp hiệu quả cho điều khiển tuabin thủy điện. Hai phương pháp này bổ sung ưu điểm cho nhau. Logic mờ xử lý tốt kiến thức chuyên gia. Mạng nơron học hỏi từ dữ liệu vận hành thực tế. Bộ điều khiển logic mờ sử dụng tập luật IF-THEN. Đầu vào gồm sai số tần số và tốc độ thay đổi. Đầu ra là tín hiệu điều khiển góc mở van. Hệ thống suy luận mờ chuyển đổi đầu vào thành đầu ra liên tục. Mạng nơron nhân tạo học được đặc tính phi tuyến của hệ thống. Cấu trúc nhiều lớp cho phép xấp xỉ hàm phức tạp. Quá trình huấn luyện sử dụng dữ liệu mô phỏng và thực nghiệm. Mạng có khả năng thích ứng với thay đổi của hệ thống. Kết hợp logic mờ và mạng nơron tạo ra bộ điều khiển ưu việt. Hệ thống vừa có kiến thức chuyên gia vừa có khả năng học hỏi. Hiệu suất điều khiển cải thiện đáng kể so với phương pháp truyền thống.

3.1. Thiết kế bộ điều khiển logic mờ cho hệ thống thủy điện

Bộ điều khiển logic mờ gồm ba bước xử lý chính. Fuzzification chuyển đổi tín hiệu số thành biến ngôn ngữ. Suy luận mờ áp dụng tập luật để đưa ra quyết định. Defuzzification chuyển đổi kết quả thành tín hiệu điều khiển số. Tập luật được xây dựng dựa trên kinh nghiệm vận hành nhà máy. Ví dụ: Nếu tần số tăng cao thì giảm góc mở van mạnh. Số lượng luật phụ thuộc vào số biến đầu vào và hàm thành viên. Hàm thành viên hình tam giác hoặc hình thang được sử dụng phổ biến. Logic mờ có ưu điểm vượt trội không cần mô hình toán học chính xác. Phương pháp chịu được nhiễu và不确定性 trong phép đo. Thời gian tính toán nhanh, phù hợp điều khiển thời gian thực.

3.2. Ứng dụng mạng nơron nhân tạo trong điều khiển thích nghi

Mạng nơron nhân tạo học được quan hệ phi tuyến phức tạp của hệ thống thủy điện. Cấu trúc perceptron nhiều lớp thường được sử dụng phổ biến. Lớp ẩn sử dụng hàm kích hoạt sigmoid hoặc ReLU. Quá trình huấn luyện sử dụng thuật toán lan truyền ngược để tối ưu trọng số. Mạng nơron được huấn luyện bằng dữ liệu mô phỏng chi tiết. Dữ liệu đầu vào gồm tần số, công suất, điện áp. Dữ liệu đầu ra là tín hiệu điều khiển tối ưu cho từng trạng thái. Sau huấn luyện, mạng đưa ra quyết định điều khiển nhanh chóng. Điều khiển thích nghi dựa trên mạng nơron rất linh hoạt. Mạng tự điều chỉnh tham số khi đặc tính hệ thống thay đổi. Điều này đảm bảo hiệu suất điều khiển ổn định trong mọi chế độ vận hành.

IV. Kết luận và triển vọng ứng dụng điều khiển tuabin thủy điện thông minh

Nghiên cứu đã xây dựng thành công hệ thống điều khiển tốc độ tuabin thủy điện liên kết vùng. Bộ điều khiển kết hợp logic mờ và mạng nơron nhân tạo cho hiệu suất vượt trội. Kết quả mô phỏng xác nhận tính khả thi của phương pháp đề xuất. Hệ thống điều khiển mới có nhiều ưu điểm nổi bật. Khả năng thích ứng cao với thay đổi tải và điều kiện vận hành. Xử lý tốt tính phi tuyến của tuabin và đường ống áp lực. Thời gian đáp ứng nhanh, dao động tần số giảm đáng kể. Ứng dụng thực tế đòi hỏi thêm các bước triển khai cụ thể. Cần kiểm nghiệm trên hệ thống thí nghiệm thu nhỏ trước. Đánh giá độ tin cậy trong vận hành dài hạn là cần thiết. Tối ưu hóa tham số cho từng nhà máy cụ thể. Phương pháp này mở ra hướng nghiên cứu mới kết hợp công nghệ IoT. Phát triển hệ thống điều khiển thông minh cho lưới điện tương lai. Đóng góp vào hiện đại hóa ngành thủy điện Việt Nam.

4.1. Kết quả nghiên cứu và hiệu quả điều khiển đạt được

Kết quả mô phỏng cho thấy hệ thống điều khiển hoạt động tốt trong nhiều tình huống. Tần số lưới điện ổn định nhanh sau khi có nhiễu loạn tải. Dao động quá độ giảm 30-40% so với bộ PID truyền thống. Thời gian ổn định ngắn hơn rõ rệt. Bộ điều khiển logic mờ xử lý tốt vùng tải rộng. Không cần hiệu chỉnh tham số khi vận hành ở chế độ khác nhau. Mạng nơron cải thiện khả năng thích ứng của hệ thống. Sai số trạng thái ổn định đạt gần bằng không. Hệ thống liên kết hai vùng hoạt động ổn định. Dao động liên vùng được dập tắt hiệu quả. Phối hợp giữa các nhà máy diễn ra nhịp nhàng. Kết quả khẳng định tính khả thi của phương pháp đề xuất.

4.2. Triển vọng ứng dụng và phát triển trong thực tế

Phương pháp có thể áp dụng cho nhiều loại nhà máy thủy điện khác nhau. Từ nhà máy đơn vị nhỏ đến nhà máy lớn liên kết vùng. Cần điều chỉnh tham số phù hợp với đặc tính từng nhà máy cụ thể. Quá trình triển khai cần có chuyên gia am hiểu hệ thống thủy điện. Công nghệ IoT hỗ trợ giám sát và thu thập dữ liệu thời gian thực. Dữ liệu này dùng để huấn luyện và cập nhật mạng nơron liên tục. Hệ thống trở nên ngày càng chính xác hơn qua thời gian vận hành. Tương lai có thể tích hợp trí tuệ nhân tạo nâng cao hơn. Học sâu và học tăng cường mở rộng khả năng điều khiển tự động. Hệ thống điều khiển hoàn toàn tự động cho lưới điện thông minh. Đây là hướng phát triển tất yếu của ngành năng lượng tái tạo.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án nghiên cứu xây dựng hệ thống điều khiển tốc độ tuabin thủy điện liên kết vùng trên cơ sở logic mờ và mạng nơron nhân tạo

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KHIỂN TỐC ĐỘ TUABIN THỦY ĐIỆN LIÊN KẾT VÙNG ĐỂ ỔN ĐỊNH TẦN SỐ LƯỚI 1. Giới thiệu về thủy điện Việt Nam Năng lượng điện là dạng năng lượng thứ cấp được tạo ra từ nhiều nguồn năng lượng thứ cấp khác nhau như nhiệt năng (dầu, khí đốt, than, năng lượng phóng xạ, năng lượng mặt trời.), thủy năng (sông, suối, sóng biển, thủy chiều.), năng lượng gió. Đây là loại năng lượng đóng vai trò quan trọng và được sử dụng trên khắp thế giới trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống ngày nay như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, sinh hoạt. Việc sử dụng dạng năng lượng khác để biến thành điện năng của mỗi nước là tùy vào tình hình tài nguyên và đường lối phát triển của nước đó.

Thuỷ năng là một dạng năng lượng tái tạo được. Đây là đặc tính ưu việt nhất của nguồn năng lượng này, các nguồn năng lượng khác như: Nguyên tử, than, dầu. không thể tái tạo được. Trong quá trình biến đổi năng lượng, chỉ có thuỷ năng sau khi biến đổi thành cơ năng và nhiệt năng lại được tái tạo thành dạng thủy năng, còn các dạng năng lượng khác trong quá trình biến đổi không tự tái tạo trong tự nhiên.

Con người sử dụng nguồn thuỷ năng để phục vụ cho đời sống và sản xuất, đặc biệt là để phát điện. Tiềm năng thủy điện Do vị trí địa lý của Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều, nên đất nước ta có nguồn tài nguyên thủy năng tương đối lớn. Phân bố địa hình trải dài từ Bắc vào Nam với bờ biển hơn 3400 km cùng với sự thay đổi cao độ từ hơn 3100 m cho đến độ cao mặt biển đã tạo ra nguồn thế năng to lớn do chênh lệch địa hình tạo ra. Nhiều nghiên cứu đánh giá đã chỉ ra rằng, Việt Nam có thể khai thác được nguồn công suất thủy điện vào khoảng 25.000 MW, tương ứng với 9 khoảng 90 -100 tỷ kWh điện năng/năm.

Tuy nhiên, trên thực tế, tiềm năng về công suất thủy điện có thể khai thác còn nhiều hơn. Theo kinh nghiệm khai thác mà thủy điện trên thế giới, công suất thủy điện ở Việt Nam có thể khai thác trong tương lai có thể bằng từ 30.000 MW và điện năng có thể khai thác được 100 - 110 tỷ kWh/năm. Ngoài mục tiêu cung cấp điện, các nhà máy thủy điện còn có nhiệm vụ cắt và chống lũ cho hạ du trong mùa mưa bão, đồng thời cung cấp nước phục vụ sản xuất và nhu cầu dân sinh trong mùa khô. Ở nước ta, thủy điện chiếm một tỷ trọng cao trong cơ cấu sản xuất điện.

Hiện nay, mặc dù ngành điện đã phát triển đa dạng hóa nguồn điện, nhưng thủy điện vẫn đang chiếm một tỷ trọng đáng kể. Năm 2014, thủy điện chiếm khoảng 32% trong tổng sản xuất điện. Theo dự báo của Quy hoạch điện VII (QHĐ VII) thì đến các năm 2020 và 2030 tỷ trọng thủy điện vẫn còn khá cao, tương ứng là 23%. Trong thời kì đổi mới hiện nay, nền công nghiệp nước ta đóng một vị trí rất quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, ngành điện là ngành tiên phong luôn đi trước một bước và xây dựng các nhà máy, nhiệt điện, thủy điện, điện gió điện mặt trời, điện hạt nhân.

Trong số các nguồn điện thì thủy điện luôn đạt sản lượng cao nhất chiếm một tỉ trọng lớn trong ngành điện. Do vậy nhà máy thủy điện luôn được Chính phủ và các Bộ ngành, Tập đoàn Điện lực quan tâm và đầu tư rất lớn. Tại các khu vực, miền Bắc, miền Trung, miền Nam, công suất của nhà máy thủy điện theo TCVN 5090 được phân chia thành 3 loại, thủy điện lớn có công suất P> 1000MW, thủy điện trung bình có công suất 15MW< P <1000MW, thủy điện nhỏ P<15MW. Mô hình nhà máy thủy điện Một số nhà máy thủy điện lớn có thể kể đến như: nhà máy thủy điện Sơn La là nhà máy thủy điện lớn nhất Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, được xây dựng ngày 2/12/2005, công suất lắp đặt 2400MW, nhà máy thủy điện Hòa Bình công suất 1920MW được xây dựng và khánh thành năm 1994, nhà máy thủy điện Lai Châu công suất lắp đặt 1200MW, thủy điện Huội Quảng công suất lắp đặt 520MW, thủy điện Yaly công suất lắp đặt 720MW, thủy điện Hàm Thuận - Đa Nhim khởi công năm 1997, hoàn thành 2001, công suất 300MW, nhà máy thủy điện Tuyên Quang công suất 342 MW.

là những thủy điện chiến lược đa mục tiêu. Bên cạnh đó là những nhà máy thủy điện vừa và thủy điện nhỏ cũng tham gia vào thị trường phát điện Việt Nam. Có thể thấy thủy điện luôn đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Chính vì vậy mà khâu đầu tư, chế tạo thiết bị, quản lí vận hành cho các nhà máy đòi hỏi rất cao về yêu cầu kỹ thuật công nghệ và an ninh năng lượng của Quốc gia.

Nhà máy thủy điện có bộ điều tốc (được ví như là trái tim của nhà máy) làm nhiệm vụ điều chỉnh tốc độ và tần số máy phát. Trong hệ thống nhà máy dù chỉ 11 xảy ra các dao động nhỏ cũng ảnh hưởng đến ổn định tổ máy, chất lượng đầu ra của nhà máy nên bộ điều khiển điều tốc của thủy điện rất quan trọng trong quá trình phát điện, luôn được quan tâm nghiên cứu. Hệ thống tự động hóa trong nhà máy thủy điện Trong [3] nhà máy thủy điện hệ thống tự động hóa có vai trò rất quan trọng, nó được thiết kế, trang bị kỹ thuật cao và phải đảm bảo an toàn trong quá trình vận hành. Các quá trình phát điện được điều khiển một cách tự động và tối ưu quá trình sản xuất điện năng.

Ta có sơ đồ hệ thống tự động hóa trong nhà máy như sau: Hình 1. Hệ thống tự động hóa cho nhà máy thủy điện 12 Nguyên lí của sơ đồ hệ thống tự động hóa trong nhà máy phát điện là: hệ tuabin máy phát sẽ có nhiệm vụ phát ra điện, sau đó qua khâu biến đổi điện áp (máy biến áp) và truyền tải trên đường dây đi đến các phụ tải, trong đó quá trình vận hành phát điện được thực hiện tự động. Trong hệ thống tự động động hóa của nhà máy thì có các khối có chức năng như: Điều khiển tổ máy phát: Tổ máy có nhiệm vụ phát điện thông qua khâu tuabin máy phát và phát ra điện áp đầu ra của máy phát và tần số, trên cơ sở lịch trình đăng kí phát điện để phát công suất đưa lên hệ thống được điều độ chấp thuận để vận hành được đảm bảo kỹ thuật thuật và hiệu quả kinh tế trong vận hành khai thác. Điều khiển truyền tải là điều khiển công suất phản kháng để điều chỉnh điện áp trên đường dây.

Trong hệ thống điện sẽ có các nhà máy sẽ cùng phát điện lên lưới do vậy việc phối hợp cũng như tự động hóa trong hệ thống điện là rất quan trong và cần thiết để giảm chi phí vận hành nâng cao ổn định hệ thống. Để hiểu được hệ thống có cấu trúc phức tạp trước tiên ta đi nghiên cứu mô hình nhà máy thủy điện đơn vùng. Sơ đồ cấu trúc của mô hình hệ thống được thể hiện trên hình 1.3 [11], bao gồm các khâu: Thay đổi công suất f đặt e f Bộ điều khiển Điều tốc Tuabin Máy phát Hình 1. Sơ đồ khối nhà máy thủy điện đơn vùng Bộ điều khiển: Có nhiệm vụ tạo ra giá trị đặt thích hợp cho bộ điều tốc.

Các thuật toán điều khiển thông minh được quan tâm để thiết kế cho bộ điều khiển này. 13 Bộ điều tốc: Có nhiệm vụ điều chỉnh tốc độ tuabin thủy điện để phục vụ cho điều chỉnh tốc độ (tần số) công suất của máy phát sao cho hệ thống điện luôn luôn ổn định. Tuabin: Công dụng dùng để dẫn động cho máy phát điện 3 pha, điều khiển tuabin được thực hiện bằng bộ điều tốc thuỷ lực, bánh xe công tác, cánh hướng, buồng xoắn, ống hút. Máy phát: Trục của máy phát điện được nối trực tiếp với trục tuabin nên máy phát sẽ quay cùng với tốc độ quay của tuabin, do vậy việc điều chỉnh tần số và điện áp của máy phát chính là việc điều khiển tốc độ của tuabin thủy lực.

Bài toán điều khiển tần số và công suất tác dụng trong hệ thống điện Với việc điều khiển tốc độ tuabin thủy điện để thay đổi tần số, trong quá trình vận hành khi phụ tải hệ thống thay đổi sẽ dẫn đến công suất, tần số thay đổi gây ra lệch công suất tải giữa các vùng làm mất ổn định hệ thống. Sự mất ổn định này tùy thuộc vào đặc tính dốc xuống của điều tốc và độ lệch tần số của tải, dù thay đổi tải xảy ra ở bất kể vị trí nào. Việc khôi phục tần số hệ thống về giá trị danh định đòi hỏi phải điều chỉnh bổ sung điểm đặt tham chiếu tải (thông qua tua bin máy phát). Thông qua điều khiển các điểm đặt tham chiếu tải của các khu vực phát điện được chọn, việc điều khiển công suất tua bin được phù hợp với các biến thiên của tải trên hệ thống theo mong muốn.

Mục tiêu chính của điều khiển tự động máy phát (AGC) là điều chỉnh tần số về giá trị danh định và duy trì công suất trao đổi giữa các vùng phát điện ở các giá trị danh định theo lịch trình. Chức năng này thường được gọi là điều khiển tần số tải (LFC), nhằm phân phối sự thay đổi cần thiết công suất và tần số các vùng một cách hợp lí để giảm thiểu chi phí vận hành. 14 Trong một hệ thống điện chức năng của AGC là khôi phục tần số về giá trị danh định. Điều này được thực hiện bằng cách thêm một điều khiển thiết lập lại hoặc tích hợp hoạt động trên các cài đặt tham chiếu tải các điều tốc của các tổ máy trên AGC cùng bổ sung bộ điều khiển tích phân để đảm bảo lỗi tần số bằng 0 ở trạng thái ổn định.

Công việc điều khiển bổ sung chậm hơn nhiều so với việc điều khiển tốc độ chính. Thực tế nó thay đổi sau khi điều khiển tốc độ chính đã ổn định tần số hệ thống. Theo thông tư 25/TT/BCT, ngày 30 tháng 11 năm 2016 trong bảng 1. Tổ máy phát điện của nhà máy điện phải có khả năng liên tục phát công suất tác dụng định mức trong dải tần số từ 49 Hz đến 51 Hz.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ