CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về mối liên hệ giữa đặc điểm nhân khẩu học của Giám đốc điều hành (CEO) và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Các nghiên cứu ở nước ngoài Trong bất cứ DN nào, thuộc bất cứ ngành nghề nào, giám đốc điều hành (CEO) cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng, không thể thay thế, là người chèo lái con thuyền DN để DN đi đúng hướng và đạt được những thành tựu mong muốn. Vì vậy, mối liên hệ giữa đặc điểm nhân khẩu học của CEO và KQHĐ của DN nhận được sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu trên thế giới.
Sở dĩ đặc điểm nhân khẩu học của CEO chiếm phần lớn các nghiên cứu do khả năng tiếp cận thông tin dễ dàng, dữ liệu cung cấp có thể kiểm chứng được thông qua các nguồn đa dạng và có tính khách quan lớn hơn so với các đặc điểm tâm lý học (Kitchell, 2009). Trên thực tế, các đặc điểm nhân khẩu học của CEO thường được xem xét trong mối liên hệ với một số đặc điểm nội tại của DN trong vai trò các biến kiểm soát của mô hình. Jalbert và cộng sự (2002) tập trung đánh giá mối liên hệ giữa trình độ học vấn của CEO và cơ sở đào tạo của CEO với thù lao CEO nhận được, mối quan hệ giữa bằng cấp của CEO với KQHĐ của DN tính bằng ROA và chỉ số Tobin’s Q tại các công ty lớn của Mỹ theo xếp hạng của tạp chí Forbes giai đoạn 1973-1997. Kết quả hồi quy đa biến cho thấy CEO có bằng sau đại học chủ yếu được đào tạo từ một số ít trường, điển hình là Đại học Harvard chiếm 19%; việc có bằng đại học và học ở đâu chỉ có ý nghĩa với CEO trong việc có được vị trí này nhưng ít ảnh hưởng tới thù lao của họ khi họ đã ở vị trí đó.
Ngược lại, số năm công tác, số năm nắm giữ cương vị, CEO đồng thời là người sáng lập công ty, quy mô công ty, có ảnh hưởng thuận chiều tới mức thù lao CEO nhận được; CEO tốt nghiệp sau đại học từ những trường thuộc nhóm 10, 25 và 50 đại học đứng đầu của Mỹ về số người tốt nghiệp được bổ nhiệm CEO có ROA của DN cao hơn nhưng Tobin’s Q lại thấp hơn CEO khác. Các biến đặc điểm nội tại DN được xem xét gồm quy mô DN (về tài sản), tuổi DN, và tăng trưởng (về doanh thu). Đặc điểm CEO và đội ngũ quản lý đứng đầu DN được Papadakis và Barwise (2002) tìm hiểu trong mối liên hệ với việc đưa ra các quyết định chiến lược của DN. 9 Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ phỏng vấn CEO, phỏng vấn bán cấu trúc với các nhà quản lý chính, bảng hỏi điều tra với CEO và các nhà quản lý chính, tài liệu, báo cáo, biên bản họp nội bộ DN và 70 quyết định chiến lược của DN công nghiệp ở Hy Lạp.
Bốn đặc điểm của quá trình đưa ra quyết định chiến lược là sự luận giải hợp lý, sự phân quyền, sự giao tiếp mang tính định hướng và tính chính trị hoá. Hai đặc tính của CEO gồm nhu cầu đạt được thành tựu và mức độ chấp nhận rủi ro; hai đặc điểm nhân khẩu học của CEO gồm thâm niên, học vấn và hai đặc điểm của đội ngũ quản lý chính là học vấn và mức độ sẵn sàng cạnh tranh được đưa vào nghiên cứu. Sử dụng hồi quy phân cấp (hierarchical regression), hai tác giả cho thấy các đặc điểm thuộc về CEO và đội ngũ quản lý chính đều có tác động tới quá trình đưa ra quyết định chiến lược song đặc điểm của đội ngũ quản lý chính có tác động mạnh hơn. Đặc tính CEO tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê tới mức độ phân quyền trong khi đặc tính của đội ngũ quản lý chính lại có liên hệ với sự luận giải hợp lý và giao tiếp mang tính định hướng.
Mức độ chấp nhận rủi ro của CEO không có tác động đáng kể tới quá trình đưa ra các quyết định chiến lược. Thâm niên CEO tác động lớn tới việc CEO áp dụng phân quyền khi đưa ra quyết định. Những kết quả trên ủng hộ cho lý thuyết UET tuy nhiên gợi ý rằng cần xem xét cả đặc điểm CEO và đội ngũ quản lý chính trong bối cảnh rộng hơn với các biến kiểm soát như mức độ ảnh hưởng của quyết định, mức độ thù nghịch của môi trường bên ngoài hay các biến đặc điểm nội tại DN như quy mô DN (logarit số lao động toàn thời gian), và công ty là độc lập hay thuộc về một nhóm DN khi đánh giá quá trình đưa ra quyết định chiến lược trong DN. Barker và Mueller (2002) đánh giá tác động của thâm niên công tác, tuổi CEO, kinh nghiệm của CEO trong những lĩnh vực khác nhau, bằng cấp CEO trong các ngành khác nhau tới mức chi tiêu cho R&D của DN.
172 DN niêm yết thuộc mẫu nghiên cứu được rút ra từ danh mục 1.000 DN theo xếp hạng của tạp chí Business Week trong năm 1989-1990 có báo cáo về chi tiêu R&D và dữ liệu về CEO. CEO giữ vị trí này dưới 1 năm bị loại khỏi nghiên cứu do thời gian ngắn tác động chưa đủ lớn tới chi tiêu R&D. Mức chi tiêu cho R&D được tính bằng số tiền chi cho R&D bình quân trên mỗi lao động. Sử dụng hồi quy OLS, các tác giả cho thấy chi tiêu R&D cao hơn ở DN có CEO trẻ hơn, bỏ nhiều tài sản đầu tư vào cổ phiếu của công ty hơn, có kinh nghiệm về marketing và/hoặc kỹ thuật và R&D.
Số bằng cấp mà CEO có 10 được không liên hệ có ý nghĩa thống kê với chi tiêu R&D một khi CEO đã có một bằng đại học. Tuy nhiên, những DN có CEO với bằng cấp về kỹ thuật cao hơn bằng đại học có chi tiêu R&D cao hơn. CEO có thâm niên công tác lâu hơn chi tiêu cho R&D lớn hơn. Các biến thuộc về đặc điểm nội tại DN được xem xét là quy mô DN (logarit số lao động), đòn bẩy, KQHĐ của DN trong quá khứ, phần lớn cổ phiếu của DN có bị nắm giữ bởi nhà đầu tư tổ chức không, và việc DN thực hiện đa dạng hoá trong các ngành nghề liên quan hay không liên quan.
Erhardt và cộng sự (2003) tìm hiểu mối liên hệ giữa sự đa dạng nhân khẩu học về giới và chủng tộc trong Hội đồng quản trị (HĐQT) của 112 DN lớn niêm yết của Hoa Kỳ với KQHĐ của DN đo lường bởi chỉ số ROA và ROI. Sự đa dạng về nhân khẩu học được định nghĩa là có sự tham gia của lãnh đạo nữ và lãnh đạo nữ có xuất xứ từ các chủng tộc chiếm thiểu số ở Mỹ (gốc Phi, Tây Ban Nha, gốc Á và tộc người Mỹ bản địa) so với chủng tộc Anglo-Saxon da trắng vốn chiếm đa số. Kết quả hồi quy phân cấp cho thấy mối liên hệ tỷ lệ thuận giữa sự đa dạng nhân khẩu học trong HĐQT và ROA, ROI của những DN này. Nghiên cứu cũng đánh giá các biến đặc điểm nội tại DN gồm ngành nghề (sản xuất hay dịch vụ), tài sản của DN và quy mô HĐQT.
Quan tâm tới học vấn của CEO, Gottesman và Morey (2006) nghiên cứu quan hệ giữa chất lượng học vấn của CEO và KQHĐ của DN xét về khía cạnh thị trường - đo bằng hệ số sinh lời thặng dư theo tháng, hệ số alpha bốn chỉ số, và xét về khía cạnh vận hành - đo bằng ROA, ROE, và Tobin’s Q, sử dụng hồi quy OLS và phương pháp biến công cụ (Instrumental variables – IV). CEO có bằng tốt nghiệp đại học tại Mỹ, đang điều hành công ty niêm yết trên sàn chứng khoán New York (NYSE) tại thời điểm 1/1/2000 và có dữ liệu về cổ phiếu trong vòng 3 năm 1997-1999 được đưa vào nghiên cứu. Học vấn CEO được xét trên khía cạnh bằng đại học hay thạc sỹ, trường đào tạo, bằng thạc sỹ về quản trị kinh doanh (MBA), về luật hay ngành khác, trường nơi CEO tốt nghiệp, xếp hạng danh tiếng của trường theo mức điểm trung bình đầu vào SAT, GMAT, và GRE. Kết quả cho thấy không có bằng chứng về việc CEO tốt nghiệp từ những trường danh tiếng hơn điều hành DN giỏi hơn; CEO có bằng MBA và thạc sỹ luật không nổi trội hơn CEO không có bằng thạc sỹ; có bằng chứng hữu hạn về việc CEO không có bằng MBA hoặc thạc sỹ luật có KQHĐ điều 11 chỉnh rủi ro theo thị trường tốt hơn; thù lao của CEO tốt nghiệp từ trường danh tiếng cao hơn CEO khác ở mức ý nghĩa 10%.
Các biến đặc điểm nội tại DN được đánh giá đồng thời là tổng doanh thu trung bình năm, đòn bẩy và tỷ lệ thanh khoản trung bình năm (bằng tổng tiền mặt và các khoản đầu tư ngắn hạn trên tổng tài sản). Sự tham gia của nữ trong đội ngũ lãnh đạo cấp cao của DN và chất lượng báo cáo thu nhập về lợi nhuận được Krishnan và Parsons (2008) đánh giá với mẫu nghiên cứu là các công ty trong bảng xếp hạng Fortune 500. Những công ty này có kết quả điều tra về giới trong báo cáo nghiên cứu của Catalyst năm 2004 – một tổ chức độc lập, phi lợi nhuận, chuyên tư vấn và nghiên cứu nhằm khuyến khích nữ giới tham gia kinh doanh với văn phòng tại New York, San Jose, và Toronto. Chất lượng thu nhập là mức độ thu nhập về lợi nhuận được DN báo cáo phản ánh đúng thực trạng kinh tế của DN.
Kết quả hồi quy dữ liệu chéo cho thấy những công ty có nữ tham gia trong đội ngũ lãnh đạo cấp cao có lợi nhuận cao hơn và tỷ suất sinh lời cổ phiếu lớn hơn sau khi chào bán cổ phiếu ra công chúng lần đầu (IPO) so với những công ty có ít nữ trong đội ngũ lãnh đạo hơn. Nói cách khác, chất lượng thu nhập của DN có liên hệ cùng chiều với sự đa dạng về giới trong đội ngũ lãnh đạo DN. Biến quy mô DN (thuộc đặc điểm nội tại DN) tính bằng giá trị thị trường của cổ phiếu DN được đưa vào đánh giá trong nghiên cứu. Kitchell (2009) tìm hiểu mối liên hệ giữa đổi mới sáng tạo về công nghệ trong DN và đặc điểm nhân khẩu học CEO về tuổi, trình độ kỹ thuật, nhiệm kỳ, tình trạng nhập cư, kinh nghiệm quốc tế, đặc điểm tâm lý CEO gồm tính linh hoạt, sự chấp nhận rủi ro, và sự kiên trì.