Ảnh hưởng văn học dân gian trong truyện thiếu nhi Việt Nam 1975-2010 - Luận án của Hồ Hữu Nhật

Luận án phân tích ảnh hưởng của văn học dân gian đến nội dung và nghệ thuật truyện thiếu nhi Việt Nam giai đoạn 1975-2010, làm sáng tỏ sự kế thừa và sáng tạo.

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

167
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về ảnh hưởng văn học dân gian trong truyện thiếu nhi Việt Nam 1975 2010

Luận án tiến sĩ của Hồ Hữu Nhật (Đại học Khoa học Huế, 2018) nghiên cứu sâu về ảnh hưởng của văn học dân gian trong truyện thiếu nhi Việt Nam giai đoạn 1975-2010. Đây là công trình khoa học quan trọng, làm sáng tỏ mối quan hệ mật thiết giữa di sản văn học dân gian và sáng tác văn học viết cho thiếu nhi. Nghiên cứu tập trung vào các phương thức ảnh hưởng từ cảm hứng nghệ thuật, cốt truyện, môtip đến hình tượng nhân vật và không gian nghệ thuật. Giai đoạn 1975-2010 đánh dấu sự phát triển đa dạng của văn học thiếu nhi. Nhiều nhà văn đã tìm về cội nguồn dân gian để sáng tạo. Văn học dân gian trở thành mạch nguồn nuôi dưỡng sáng tác. Các tác giả như Phạm Hổ, Xuân Quỳnh, Nguyễn Nhật Ánh đã kế thừa và phát huy truyền thống. Nghiên cứu giúp hiểu rõ vai trò của văn học dân gian đối với sự phát triển văn học thiếu nhi hiện đại.

1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu là ảnh hưởng của văn học dân gian trong các sáng tác truyện thiếu nhi Việt Nam. Phạm vi thời gian từ năm 1975 đến năm 2010, giai đoạn đất nước thống nhất và phát triển. Phạm vi không gian bao gồm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Nghiên cứu phân tích các tác phẩm truyện thiếu nhi tiêu biểu của các nhà văn nổi tiếng. Phương pháp tiếp cận đa ngành, kết hợp văn học học, folklore học và nghiên cứu văn hóa.

1.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận án có ý nghĩa khoa học trong việc làm sáng tỏ cơ chế ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học viết. Về thực tiễn, nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận cho sáng tác văn học thiếu nhi. Kết quả nghiên cứu giúp nhà văn hiểu rõ cách kế thừa di sản dân gian. Đề tài cũng phục vụ công tác giảng dạy văn học trong nhà trường. Nghiên cứu góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống.

II. Phân tích các phương thức ảnh hưởng của văn học dân gian

Luận án chỉ ra nhiều phương thức ảnh hưởng đa dạng của văn học dân gian trong truyện thiếu nhi. Phương thức thứ nhất là ảnh hưởng từ cảm hứng nghệ thuật. Nhà văn tìm thấy nguồn cảm hứng từ thần thoại, cổ tích, truyền thuyết dân gian. Cảm hứng về nguồn gốc vũ trụ, hiện tượng tự nhiên được tái hiện sinh động. Cảm hứng về hành trình dựng nước và giữ nước của người Việt cổ cũng được khai thác. Phương thức thứ hai là tái sinh cốt truyện dân gian. Nhiều tác phẩm hiện đại tái hiện trọn vẹn hoặc một phần cốt truyện cổ tích. Ví dụ, tác phẩm của Xuân Quỳnh về Chử Đồng Tử và Tiên Dung. Phương thức thứ ba là sự thâm nhập các môtip truyện dân gian. Môtip mẹ ghẻ con chồng, đầu thai thần kỳ, kết thúc có hậu xuất hiện nhiều. Các phương thức này tạo nên bản sắc riêng cho văn học thiếu nhi Việt Nam.

2.1. Ảnh hưởng từ cảm hứng nghệ thuật dân gian

2.2. Sự tái sinh cốt truyện và môtip dân gian

Sự tái sinh cốt truyện dân gian diễn ra theo hai hình thức. Hình thức thứ nhất là tái sinh trọn vẹn toàn bộ cốt truyện. Tác phẩm của Xuân Quỳnh về Chử Đồng Tử là ví dụ điển hình. Câu chuyện lặp lại đầy đủ các sự kiện từ nguyên bản dân gian. Hình thức thứ hai là tái sinh không trọn vẹn, chỉ khai thác một phần. Các môtip dân gian cũng thâm nhập sâu vào sáng tác hiện đại. Môtip mẹ ghẻ con chồng, kết thúc có hậu được sử dụng phổ biến.

III. Giải pháp kế thừa và phát huy giá trị văn học dân gian

Luận án đề xuất nhiều giải pháp để kế thừa hiệu quả di sản văn học dân gian. Giải pháp đầu tiên là nghiên cứu kỹ nguyên bản dân gian trước khi sáng tác. Nhà văn cần hiểu sâu sắc bản chất và giá trị của tác phẩm dân gian. Giải pháp thứ hai là sáng tạo mới trên nền tảng truyền thống. Không sao chép nguyên văn mà biến đổi phù hợp với tâm lý trẻ em hiện đại. Giải pháp thứ ba là kết hợp yếu tố dân gian với hiện đại một cách hài hòa. Sử dụng ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu cho đối tượng thiếu nhi. Giải pháp thứ tư là giáo dục ý thức bảo tồn văn hóa dân gian qua sáng tác. Văn học thiếu nhi trở thành cầu nối giữa quá khứ và hiện tại. Các giải pháp này giúp phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong thời đại mới.

3.1. Phương pháp tiếp cận và sáng tạo từ vốn dân gian

Phương pháp tiếp cận văn học dân gian đòi hỏi sự nghiên cứu nghiêm túc. Nhà văn cần tìm hiểu bối cảnh lịch sử, văn hóa của tác phẩm dân gian. Việc phân tích cấu trúc, hình tượng, ngôn ngữ dân gian là cần thiết. Từ đó, nhà văn sáng tạo mới dựa trên nền tảng truyền thống. Phương pháp này đảm bảo tính kế thừa và phát triển. Tác phẩm vừa giữ được hồn cốt dân gian vừa mang hơi thở hiện đại.

3.2. Vai trò của nhà văn trong việc bảo tồn văn hóa dân gian

Nhà văn viết cho thiếu nhi đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn văn hóa dân gian. Họ là người kể chuyện, truyền đạt giá trị truyền thống cho thế hệ trẻ. Nhà văn Phạm Hổ được đánh giá cao trong việc sáng tạo từ cổ tích. Trần Đăng Khoa nhận xét Phạm Hổ dẫn dụ từ cõi trần sang cổ tích. Nhà văn Nguyên Ngọc ngạc nhiên trước cách Phạm Hổ tái hiện dân gian. Sự sáng tạo của nhà văn giúp văn hóa dân gian sống mãi trong lòng độc giả nhí.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu ảnh hưởng văn học dân gian

Luận án đạt được nhiều kết quả quan trọng về ảnh hưởng văn học dân gian trong truyện thiếu nhi. Nghiên cứu xác định rõ các phương thức ảnh hưởng từ cảm hứng, cốt truyện, môtip đến nhân vật. Giai đoạn 1975-2010 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của văn học thiếu nhi. Nhiều nhà văn đã thành công trong việc kế thừa di sản dân gian. Tác phẩm của Phạm Hổ, Xuân Quỳnh, Nguyễn Nhật Ánh là những minh chứng sống động. Kết luận khẳng định văn học dân gian là mạch nguồn nuôi dưỡng sáng tác thiếu nhi. Ứng dụng của nghiên cứu trong giảng dạy văn học rất thiết thực. Giáo viên có thể sử dụng kết quả để soạn bài giảng hiệu quả. Nhà văn có thêm cơ sở lý luận cho sáng tác. Nghiên cứu cũng mở ra hướng tiếp cận mới cho phê bình văn học thiếu nhi.

4.1. Đóng góp mới của luận án cho ngành văn học

Luận án đóng góp nhiều điểm mới cho ngành nghiên cứu văn học. Thứ nhất, hệ thống hóa toàn diện các phương thức ảnh hưởng dân gian. Thứ hai, phân tích sâu các tác phẩm tiêu biểu giai đoạn 1975-2010. Thứ ba, chỉ ra cơ chế sáng tạo từ vốn dân gian của nhà văn hiện đại. Thứ tư, đề xuất giải pháp kế thừa và phát huy giá trị truyền thống. Đóng góp này bổ sung kho tàng lý luận văn học thiếu nhi Việt Nam.

4.2. Hướng phát triển và ứng dụng trong thực tiễn

Nghiên cứu mở ra nhiều hướng phát triển cho tương lai. Có thể mở rộng phạm vi sang giai đoạn sau 2010. Nghiên cứu so sánh ảnh hưởng dân gian trong văn học thiếu nhi các nước. Ứng dụng trong biên soạn sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy. Tổ chức hội thảo khoa học về chủ đề này. Khuyến khích nhà văn sáng tác từ vốn dân gian. Xây dựng chương trình giáo dục văn hóa dân gian cho trẻ em qua văn học.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án ảnh hưởng văn học dân gian trong truyện thiếu nhi việt nam 1975 2010

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề tại sao khi có văn học viết rồi thì văn học dân gian đã không teo đi, ngược lại vẫn tồn tại như một dòng riêng và phát triển, do đó vẫn tiếp tục và tăng cường vai trò làm nền cho sự kết tinh của văn học viết. Từ đó, tác giả đã đề xuất cần nhìn nhận mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết trong cả tiến trình lịch sử văn học dân tộc. Trần Đức Ngôn lại quan tâm đến các hình thức tương tác cơ bản giữa văn học dân gian và văn học viết. Tác giả phát hiện các hình thức tương tác phổ biến.

Đầu tiên là hình thức nhại. Trần Đức Ngôn khẳng định: “Hoàn toàn không có chuyện văn học dân gian nhại văn học dân gian. Những người làm văn học dân gian không bao giờ nhại nhau. Các 13 trường hợp nhại đều là văn học dân gian nhại văn học viết.

Bắt đầu từ sự nghiêm trang trong văn học bác học, văn học dân gian bẻ cong thành một tác phẩm khác, mất đi ý nghĩa đích thực và hoàn toàn mang ý nghĩa trào lộng” [115]. Tiếp theo là hình thức mô phỏng. Nói đúng hơn đây là những tác phẩm viết theo hình thức “ngụy dân gian”, nhiều người dễ nhầm tưởng là tác phẩm dân gian. Theo tác giả, đối với những tác phẩm này thì việc đi tìm sự khác biệt giữa tác phẩm dân gian mô phỏng và tác phẩm đích thực là rất khó khăn.

Cuối cùng là hình thức thâm nhập lẫn nhau. Tác giả cho rằng có hai dạng: thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học và thâm nhập lẫn nhau về phong cách. “Sự thâm nhập lẫn nhau về chất liệu, dù diễn ra phổ biến, vẫn không làm xóa nhòa ranh giới giữa văn học dân gian và văn học viết. Mỗi tác gia văn học viết đều có ý thức rõ ràng rằng mình sử dụng chất liệu văn học dân gian để làm gì và sử dụng như thế nào.

Sự có mặt của chất liệu văn học dân gian trong tác phẩm văn học viết làm cho các tác phẩm này gần gũi với dân gian nhưng không làm biến chất bác học” [115]. Phạm Quang Trung khi Suy nghĩ thêm về mối quan hệ giữa văn chương dân gian với văn chương viết tiếp tục chỉ rõ những tác động qua lại của văn học dân gian đối với văn học viết và văn học viết đối với văn học dân gian. Văn chương dân gian tác động đối với văn chương viết, tập trung vào những ảnh hưởng dễ nhận thấy về cách sử dụng ngôn từ, yếu tố tục, chất phản kháng từ dân gian đã thật sự tác động tới tinh thần, làm nên giá trị tư tưởng nhiều truyện thơ Nôm. Tính nguyên hợp của văn chương dân gian như lời, ca, múa cũng được văn chương viết vận dụng một cách hài hòa với nhau.

Theo Phạm Quang Trung, tác động của văn chương viết đối với văn chương dân gian cũng có nhiều. Tác giả khái quát thành bốn sự tác động: “Một là, khi văn chương viết hình thành và trở nên phổ biến thì một trong những nhiệm vụ trọng yếu đầu tiên của nó là ghi lại văn chương dân gian, thật sự chắp thêm đôi cánh cho bộ phận văn chương vốn là duy nhất trước đó. Từ đây, văn chương dân gian có thể bay xa hơn, vọng sâu hơn, để rồi ảnh hưởng xã hội và tác động văn chương của nó ngày càng được khẳng định. Hai là, vai trò của các tên tuổi lớn đối với những sinh hoạt văn chương, văn nghệ dân gian.

Ba là, các nghệ sĩ dân gian được gần gũi thường xuyên với các tác giả danh tiếng, học hỏi ở họ nhiều điều về kỹ thuật viết văn, làm thơ, nhất là ý thức trau dồi văn chương theo những điều khe khắt mà tất yếu nếu muốn sáng tạo nên những tác phẩm vừa có ý nghĩa xã hội 14 vừa có ý nghĩa nghề nghiệp. Bốn là, lí luận văn chương nhờ gắn bó mật thiết với sự ra đời và hoàn thiện của văn chương viết có điều kiện phát triển, để rồi, bước vào thời hiện đại, nó tự giác đặt ra nhiệm vụ xây dựng một hệ thống lí thuyết hoàn chỉnh, có khả năng bao quát không chỉ những hiện tượng, trạng thái tiêu biểu nhất của văn chương viết mà cả văn chương dân gian. Nhờ một hệ thống lí luận khoa học như thế, văn chương dân gian càng có điều kiện nhận chân ra mình, phát huy thêm những sức mạnh vốn có, nhằm ngày càng thỏa mãn những nhu cầu tinh thần ngày một cao của xã hội” [115, tr. Nhìn mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết ở góc nhìn hẹp của thể loại truyện cổ tích nhà văn, Võ Quang Trọng cho rằng: “Truyện cổ tích do nhà văn sáng tác có cội nguồn gần gũi và mật thiết với truyện kể dân gian, trong đó trước nhất phải kể đến truyện cổ tích dân gian.

Thể loại văn học này phản ánh rõ nhất mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết. Truyện cổ tích nhà văn là một hiện tượng lớn, tồn tại trong lịch sử hình thành và phát triển của nhiều nền văn học thế giới” [115, tr. Trong bài viết này, tác giả đã bàn về hai vấn đề có tính chất cốt lõi: khái niệm truyện cổ tích văn học và đặc trưng của thể loại này. Về khái niệm thể loại, theo Võ Quang Trọng, dù ở Nga đã thống nhất sử dụng thuật ngữ “truyện cổ tích văn học” (literaturnaia xkadka) nhưng ở Việt Nam, cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được một khái niệm chung.

Có người gọi là “truyện cổ tích mới” (Vân Thanh, Thu Thảo); có người gọi “truyện cổ tích của văn học thành văn” (Chu Xuân Diên); lại có người gọi là “truyện cổ tích thành văn”; “truyện cổ tích của nhà văn”. Về đặc trưng thể loại, Võ Quang Trọng khẳng định, dù truyện cổ tích dân gian và truyện cổ tích của nhà văn có nhiều đặc điểm chung giống nhau, nhưng truyện cổ tích của nhà văn cũng có những nét riêng của một thể loại văn học viết. Vì truyện cổ tích của nhà văn là một thể loại thuộc sáng tác cá nhân, không phải là sáng tác tập thể, và được lưu truyền bằng văn bản nên không có tính dị bản như cổ tích dân gian truyền miệng. “Như vậy, truyện cổ tích của nhà văn đã chuyển từ hình thức truyền miệng dân gian sang hình thức văn học viết, từ khuyết danh đến có tác giả cụ thể.

Nếu ở truyện cổ tích dân gian có nhiều dị bản khác nhau và hàng loạt mô típ nghệ thuật có sẵn được lặp đi lặp lại nhiều lần thì truyện cổ tích của nhà văn là sáng tác duy nhất và không lặp lại, được thể hiện thông qua cá tính sáng tạo của nhà văn và phát triển theo quy luật sáng tạo văn học. 15 Hoàng Cẩm Giang trong bài viết Sự thâm nhập và tái sinh của một số mô thức tự sự dân gian trong văn xuôi Việt Nam từ 1986 đến nay đã chỉ rõ quá trình thâm nhập và tái sinh của một số mô thức truyện kể dân gian trong văn học viết. Trước hết, đó là cuộc “xâm lăng” của cổ tích và huyền thoại. Tác giả viết: “Các truyện kể dân gian (cổ tích, huyền thoại, truyền thuyết) thường thâm nhập vào các tự sự hiện đại theo hai con đường chính: lối “giả huyền thoại, giả cổ tích” và lối “truyện cổ viết lại”.

Ngoài ra, chúng ta cần nhắc đến một loại thứ ba “truyện lồng truyện” - theo nghĩa là các truyện kể dân gian được trích dẫn một phần hay nguyên vẹn trong lòng các tự sự hiện đại tùy theo mục đích của các nhân vật và diễn biến câu chuyện” [115, tr. Từ đây, Hoàng Cẩm Giang đã khảo sát một số tác phẩm để minh chứng cho sự “xâm lăng” này. Đó là trường hợp của nhà văn Tạ Duy Anh với tác phẩm Đi tìm nhân vật khi đã đưa ra phần phụ lục gồm bốn tự sự dân gian được trích dẫn nguyên vẹn là Rùa và thỏ, Trí khôn của ta đây, Tấm Cám, Mị Chậu Trọng Thủy. Trường hợp đáng lưu ý tiếp theo là cuốn tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh với sự xuất hiện huyền thoại Ông Đùng bà Đà.

Theo Hoàng Cẩm Giang, huyền thoại này không được đưa vào tiểu thuyết ở hình trạng nguyên vẹn của nó mà bị cắt rời thành nhiều mảnh và được xâu chuỗi lại theo một tuyến tính mới dọc theo tác phẩm. Thứ hai, là những biến đổi trong cấu trúc thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết. “Tiếp nhận những yếu tố của văn học dân gian, các nhà văn của chúng ta đã sáng tạo nên những “folkore hiện đại”, đã làm một cuộc cách mạng trong tư duy thể loại so với truyền thống. Tất cả các hiện tượng nói trên: “giả cổ tích”, “truyện cổ viết lại”, “truyện lồng truyện” đều tự hóa thân thành những phương thức kể chuyện đặc biệt trong các tự sự hiện đại, góp phần làm biến đổi cấu trúc thể loại của chúng.

Tác giả cho rằng sự có mặt yếu tố huyền thoại trong cấu trúc tác phẩm đã mang lại cho tác phẩm chất thơ nhẹ nhàng, thấm đượm, đồng thời bao bọc các nhân vật và tình tiết bằng một thứ không khí huyền hoặc, bí ẩn. Nó đã tạo nên một không - thời gian đa khối, đa chiều: thế giới trong đó vừa trần trụi, nghiệt ngã, đầy rẫy khổ đau lại vừa thẳm sâu, mênh mông, kì ảo. Một trong những vấn đề lí luận nổi bật trong những sáng tác dân gian là yếu tố kì ảo, tính huyền thoại. Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết, do đó, cũng được nhìn từ yếu tố thi pháp này.

Đặt vấn đề Huyền thoại văn chương: Thời điểm phát sáng và biến hóa trong văn học viết hiện đại, Đặng Anh Đào đã 16 thừa nhận huyền thoại trong văn học viết ảnh hưởng sâu sắc từ văn học dân gian. Tác giả khẳng định, chúng ta có thể tìm thấy bóng dáng sự biến hóa của huyền thoại văn chương ở mọi thời điểm phát triển của lịch sử văn chương viết, thật thiên hình vạn trạng. “Nếu không có một bề dày thẩm thấu văn học dân gian thì người đọc hiện đại không thể rung động đến tận tâm can vì những chiều sâu của triết lí hoặc phong cách tài hoa, giọng điệu mới mẻ in dấu ấn của những tài năng độc đáo - dẫu giữa họ tưởng như không có một nét gì chung” [115, tr. Theo Đặng Anh Đào, những khuôn mẫu muôn thuở của văn học dân gian đã được tác giả hiện đại tìm đến để chứa đựng những vấn đề cấp thiết của hiện sinh; chính huyền thoại đã kích thích năng lực phát hiện thông điệp, sự đồng sáng tạo trong tiếp nhận của độc giả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ