Mở đầu Chương 2: Tổng quan hiện trạng giao thông Thành phố H6 Chí Minh: Giới thiệu về thực trạng giao thông tại thành phố, thực trạng xe buýt tại thành phố và các giải pháp chống ách tắc giao thông tại Tp. Chương 3: Cơ sở lý thuyết, thu nhập số liệu và phương pháp khảo sát. Chương 4: Nghiên cứu tuyến buýt điển hình. Chương 5: Phương án thay thế xe buýt trên tuyến.
Chương 6: Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội, kết luận và kiến nghị. Y nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn Việc nghiên cứu có thé ứng dụng thực tế nham giải quyết các van dé còn ton tại đối với phương tiện vận tải hành khách công cộng tại TPHCM Kết hợp với mạng lưới xe buýt được phân bố lại theo tuyến truc-tuyén nhánh của Sở GTVT, lập các khu phố đi bộ tại trung tâm thành phó, sử dụng lại các tuyến xe buýt mới với năng lượng sạch thì việc lựa chọn xe buýt cho phù hợp với từng tuyến đường mang lại lợi ích không những vẻ kinh tế mà còn giải quyết được bai toán giữa đường xá và xe buýt, giảm thiểu nạn kẹt xe dang là van dé nhức nhối của nhiều nhà chức trách. Đồng thời với việc chọn lựa xe buýt hợp lý, khuyến khích người dân đi xe buýt, giảm thiểu lượng xe cá nhân đi vào nội thành giảm đáng ké tình trạng kẹt xe, 6 nhiễm môi trường. Có như vậy mới từng bước hoàn thiện mạng lưới giao thông công cộng tại TPHCM, giúp cho việc đô thị hóa ngày càng cao tại TPHCM.
Trang 16 Chương 2: TONG QUAN VE HIỆN TRẠNG GIAO THONG CONG CONG TẠI THÀNH PHO HO CHÍ MINH 2. Thực trang chung về tình hình xe buýt hiện nay tại Tp.HCM có nhiều yếu tố, nhu cầu và tiềm năng để phát triển giao thông công cộng hiện đại, đáp ứng nhu cau đi lại của người dân và ít gây ach tac giao thông. Tuy nhiên, do trải qua một thời gian dài chưa được quy hoạch đúng dan nên có nhiều yếu tố gây ảnh hưởng xấu đến giao thông, nhất là sự phát triển giao thông công cộng. Với chủ trương phát triển xe buýt TP.HCM được bắt đầu từ năm 2002 và với chính sách hỗ trợ lãi suất vay cho doanh nghiệp đầu tư phương tiện và trợ giá trên từng chuyến xe để giữ giá vé ở mức thấp nhằm thu hút hành khách.
Sau gần tám năm phát triển, xe buýt TP.HCM đáng lẽ phải lớn mạnh và thu hút đông đảo hành khách thì ngày càng èo uột. Tài xế bỏ việc, doanh nghiệp thua lỗ, phương tiện xuống cấp còn số lượng hành khách ngày càng ít ỏi — đó là thực trạng đáng buôn của xe buýt TP.HCM hiện nay. Tình trạng xe buýt TP.HCM hiện nay là do sự bùng nỗ loại phương tiện giao thông này ma thiếu một quy hoạch bai bản về phát triển vận tải hành khách công cộng. Mặt khác, mô hình quản lý xe buýt của thành phố còn nhiều bất cập, trong đó mô hình hợp tác xã xe buýt tỏ ra không còn phù hợp với thị trường này nữa, cần phải hiện đại hoá phương thức quan ly của các đơn vị nay dé họ đủ năng lực và trình độ quản lý trong điều kiện mới.
Có đến gần 57% tuyến xe buýt hiện nay bị trùng lắp cũng chính là do phát triển mạng lưới tuyến một cách tự do, trong khi ở nước ngoài cao lắm là 30-40%. Hiện thành phố có hơn 3.200 chiếc xe buýt nhưng chỉ 30% dùng hết công suất. (Nguồn dé tài “Tdi cấu trúc cơ cấu và hệ thống xe buýt TP.HCM theo hướng giảm Trang 17 ách tắc giao thông, tiết kiệm nhiên liệu và giảm ô nhiềm môi trường”, PGS.TS Pham Xuân Mai) Ngoài ra, việc thiếu trạm trung chuyển (mới có 8/22 trạm được đưa vào sử dung), không có lan đường riêng, mô hình hợp tác xã chiếm 67% luéng tuyến không còn thích hợp, kết nối với hệ thống metro tương lai như thế nào. cũng là những bài toán nan giải khi phát triển xe buýt thành phố.
Với nguyên nhân chính là sự đi lại bằng xe cá nhân của người dân thành phố hiện dang ở mức rất cao (90%), chúng ta rất khó có thé giải được bai toán ach tắc về giao thông vì theo qui luật bù trừ, việc giảm ách tắc chỗ này sẽ tăng ách tắc chỗ kia, trong khi tổng lưu lượng đi lại là không đối và có phan tăng lên theo thời gian. Do vay, ach tac giao thông trong thành phố vẫn sẽ còn tôn tại và còn tăng lên nữa, chừng nào lượng di lại băng xe cá nhân còn cao trên 50%. Do đó van dé can thiết hơn cả là giải pháp sắp xếp xe buýt chỉ có thể mang lại hiệu quả khi bài toán xe cá nhân phải là một giải pháp song song, không thé thiếu. Việc phát triển xe công cộng, trong đó có xe buýt là một chủ trương đúng đắn.
Hiện nay và cả về lâu dài xe buýt vẫn sẽ là công cụ cơ bản để TP.HCM thực hiện mục tiêu vận tải công cộng đáp ứng phân lớn nhu cầu đi lại của người dân. Bởi dù có metro thì phương tiện có sức chở lớn này vẫn không thé đưa hành khách đến moi góc phố như xe buýt và hành khách từ ga tàu điện ngầm lên sẽ chăng biết đi đâu, về đâu nếu không có xe buýt thực hiện các tuyến trung chuyển. Nhưng xe buýt hiện nay chi đáp ứng khoảng 7% nhu cau đi lại của người dân. Chưa kể, tinh trang xe buýt chạy au, lấn đường giành giật khách, thái độ của tiếp viên, tài xế chưa tốt càng làm dân “chê” buýt.
A»° Hiện thành phố đang có kế hoạch tổ chức lại mạng lưới luồng tuyến một cách khoa học hơn hy vọng sẽ cải thiện được hoạt động xe buýt và có kế hoạch thay mới hàng loạt xe buýt không chỉ cải thiện hình ảnh xe buýt mà còn đáp ứng tiêu chuẩn khí thải, nâng cao chất lượng xe buýt. Ngoai ra, trong điều kiện đường xá chật hẹp, tình trạng kẹt xe như hiện nay thì việc sử dụng loại xe buýt nào phù hợp cũng cân xem xét”. Các loại xe buýt lưu thông tại Tp. Chúng loại xe buýt Tính đến năm 2008, có hơn 25 loại xe buýt tham gia vận tải hành khách công cộng, phan lớn xe buýt được lắp ráp trong nước từ những cum tong thành nhập khẩu từ nước ngoài bởi các nhà sản xuất như Samco, Isuzu, Hyundai, Suzuki,.
Chung loại xe buýt rat đa dạng, dựa vào sức chứa va sự tương đồng về kích thước ta có thé phân chia thành 4 loại theo chỗ ngồi như sau: xe buýt nhỏ (12 — 16 chế) (sức chứa nhỏ hơn 20 ghế ngôi); xe buýt trung (17 — 25 ghế) (sức chứa 40 chỗ); xe buýt trung lớn (26 — dưới 39 ghế)( sức chứa 55 chỗ) và xe buýt lớn có số ghế lớn hơn 39 ghế có sức chứa 80 chỗ. Cuối năm 2005 thí điểm đưa xe buýt 2 tầng vào hoạt động trên tuyến Bến xe chợ lớn — Đại học Nông Lâm. Năm 2006 và 2007 thí điểm đưa 5 xe buýt sản thấp vào hoạt động trên tuyến Bến xe Chợ Lớn — Thủ Đức (2 xe) va Bến xe chợ Lớn — Củ Chi ( 3 xe), 6 xe trên tuyến Sai Gòn — Bình Tây có thiết bị hỗ trợ cho người khuyết tật tiếp cận hoạt động. Số lượng xe buýt Sau thời gian phục hồi từ năm 2002, tính đến nay số lượng xe buýt tham gia hoạt động vận tải hành khách công cộng ngày càng tăng và tăng đều qua các năm.
Trong giai đoạn 2003 — 2005 đã thực hiện 2 dự án đầu tư xe buýt với số lượng là 1318 xe trong đó có 400 xe chuyên đưa rước học sinh, sinh viên, công nhân. Ngoài ra số xe ngoài dự án do các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hợp tác xã đầu tư 1507 xe, chiếm 46,73% tong số xe, tính đến năm 2008 số lượng xe buýt tham gia VTHKCC là 3208 xe. Số lượng xe buýt có sức chứa trên 39 ghế chiếm 40% tổng số lượng xe. Từ năm 2002 -2009, số lượng xe buýt trên 16 chỗ tăng đang kế thé hiện sự đâu2 tư nhăm cải thiện tình hình VTHKCC, lượng xe buýt nhỏ dưới 16 chô giảm do giảm sô xe lam.1: Số lượng phương tiện xe buýt trong giai đoạn 2002 - 2009 ( Nguồn trung tâm quan ly và điều hành VTHHCC) STT | Xe buýt 2002 | 2003 | 2004 |2005 | 2006 | 2007 | 2008 | 2009 | >16 ghê 600 1749 1604 |2192 |2283 |2375 | 2449 | 2424 2 <16 ghé 1729 | 1297 | 1236 | 1058 | 1009 | 835 | 776 | 707 Bảng 2.2: Số lượng xe buýt công cộng Tp.HCM từ 2002-2009 ( Nguồn trung tâm quản lý và điều hành VTHHCC) Số lượng xe buýt | 2002 |2003 |2004 |2005 |2006 |2007 |2008 | 2009 Tổng sô xe 2100 | 2045 | 2840 | 3250 | 3292 | 3208 | 3225 | 3322 12— 16 ghê I5I3 | 1296 | 1236 | 1050 | 1007 |824 |789 | 789 17— 25 ghê 199 138 | 204 | 242 |252 | 257 |267 | 283 26 — 39 ghé 68 3405 |641 | 835 825 | 848 | 883 915 Trén 39 ghé 320 =| 306 =| 756 1121 | 1206 | 1279 | 1284 | 1335 Buyt 2 tang - - - 2 2 2 2 2 Bang 2.3: Một sô kiêu xe do các đơn vi sản xuât lap ráp trong nước cung cap: (Triệu VNĐ) ( Nguồn trung tâm quan lý và điều hành VTHHCC) TT | Loại xe Hãng sản xuất Số ghế |Giá | Ghi chú 1 | ISUZU (tự đóng) SAMCO 25-27 | 520 2 |HUYNDAI (tự đóng) |SAMCO 34 680 3 | BS—090 VIDAMCO 35 780 4 | MERCEDES Mercedes—Benz V.Nam 34 750 5 | TRANSINCO TCT Co khi GT 34 640 6 | BS—105 VIDAMCO 45 850 7 |OH-1521 Mercedes — Benz Viét Nam 45 967 8 | TRANSINCO TCT Co khi GT 45 820 Trang 20 2.
Giải pháp chống ach tắc giao thông tai Thanh phố Hồ Chí Minh 2. Hoc tập các phương pháp giải quyết ach tắc giao thông từ nước ngoài .1 Trung Quốc Gần 2 thập niên trước, người Trung Quốc đã được cảnh báo về một tai nạn do chính họ tạo ra. Năm 1995, Chính phủ trung Quốc thông báo về chính sách mới nhăm phát triển sản xuất ô tô thành ngành công nghiệp mũi nhọn của quốc gia. Ngay sau đó, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra lời tiên đoán rang đây có thé là “ bước lùi” của hạ tầng giao thông Trung Quốc.
Ngày nay với mức sống được đây lên khá cao, việc sở hữu xe hơi của người dân Trung Quốc cảng dễ dàng hơn bao giờ hết. Một thực tế mà người ta “có tình” quên là đất chật, xe đông và phan lớn đất đô thị dành cho ngững tuyến đường chật như nêm tải đủ loại ô tô.