CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BỔ NGỮ TRÌNH ĐỘ 1.1 Sự hình thành nên bổ ngữ trình độ Có nhiều loại bổ ngữ, và thông thường tên của các bổ ngữ được xác định theo ngữ nghĩa mà chúng diễn đạt trong câu. Phạm trù trình độ là một phạm trù ngữ nghĩa, ngữ pháp bao gồm nhiều cấp độ ngữ dụng, từ vựng,… Bổ ngữ trình độ được chia theo quan điểm ngữ nghĩa, thể hiện mức độ hoặc phạm vi nhất định của sự vật, và thiên về biểu đạt mức độ cao, xét về vị trí cú pháp, bổ ngữ trình độ đứng sau vị ngữ. Khi nghiên cứu phân loại bổ ngữ trình độ trong tiếng Trung hiện đại, bài viết này chọn kho ngữ liệu của phần bổ ngữ trình độ trong ngữ liệu nghiên cứu của những người đi trước, sau đó tóm tắt các điểm ngữ pháp của phần bổ ngữ trình độ trong giáo trình giảng dạy, đại cương ngữ pháp và sách giáo khoa, kết hợp tính thực tiễn và quy chuẩn đặc điểm của việc giảng dạy ngữ pháp tiếng Trung. Cuối cùng sắp xếp các bổ ngữ trình độ mà người học tiếng Trung sử dụng nhiều và thường mắc lỗi để phân tích và đưa ra giải pháp khắc phục.2 Giới thiệu tình hình nghiên cứu Bài nghiên cứu này dựa trên cơ sở nghiên cứu của những người đi trước, và tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích định nghĩa, chức năng, đặc điểm, cấu trúc và cách dùng của bổ ngữ trình độ, sau đó thông qua quá trình khảo sát thực tế, và từ những nguồn ngữ liệu từ các bài luận văn, cuối cùng tổng kết lại và phân tích những lỗi sai cơ bản mà sinh viên mắc phải trong khi sử dụng bổ ngữ trình độ, đồng thời đưa ra những giải pháp khắc phục.
Nhà nghiên cứu Shi Xian, ông đã từ những góc độ khác nhau của bổ ngữ trình độ tiến hành nghiên cứu, bài nghiên cứu vừa có tính riêng biệt vừa phân tích toàn diện. Những bài nghiên cứu đó tập trung nghiên cứu nhiều về: phạm vi và phân loại bổ ngữ trình độ, điểm khác nhau giữa bổ ngữ trình độ và các bổ ngữ khác, ngữ pháp hóa của bổ ngữ trình độ và kết cấu “V/Adj+得+bổ ngữ trình độ”. Theo sự thâm nhập của dạy học tiếng Trung, việc dạy bổ ngữ trình độ cũng trở thành điểm nóng đáng quan tâm của các 7 bạn học. Cấu trúc miêu tả là một cấu trúc tương đối đặc trưng trong tiếng Hán hiện đại, và người tiền nhiệm Shi Xian cũng đã nghiên cứu cấu trúc này từ những góc độ khác nhau.
Bởi vì phạm vi của bổ ngữ trình độ quyết định phạm vi của cấu trúc. Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào bổ ngữ trình độ, và một số học giả cũng đã nghiên cứu các đặc điểm của các cấu trúc. Với việc đào sâu trong việc giảng dạy tiếng Trung, việc giảng dạy cấu trúc miêu tả này cũng đã thu hút được sự chú ý của các học giả nghiên cứu.1 Phân loại bổ ngữ trình độ Phạm vi và phân loại bổ ngữ trình độ: Lu Shuxiang (1944) liệt kê ra 4 bổ ngữ trình độ “很、极、慌、利害”, Và chỉ rõ “很”、“极” có thể đứng trước và cũng có thể đứng sau động từ và tính từ, “慌”、“利 害” chỉ có thể đứng sau. “很”、 “慌” và “利害” dùng “得” kết nối.
Trước “极” không dùng “得”, phía sau thường dùng “了”. Zhu Dexi (1982) liệt kê 6 bổ ngữ trình độ “极、多、透、死、很、慌”, Ông cho rằng “极、多、透” thành phần của cấu trúc bổ ngữ trình độ đều thể hiện mức độ và đều có hậu tố “了”. “好得很”, “闷得慌” mặc dù trên hình thức là bổ ngữ tình thái, nhưng không có hình thức phủ định tương ứng, điều này thông thường không giống với bổ ngữ tình thái, vì vậy “很、慌” cũng trở thành bổ ngữ trình độ. Ma Qingzhu (1988), trên cơ sở phân biệt sự khác nhau giữa bổ ngữ trình độ với tân ngữ, bổ ngữ kết quả và bổ ngữ tình thái, đã liệt kê ra 25 bổ ngữ trình độ phổ biến trong khẩu ngữ Bắc Kinh “很、极、死、透、着了、不过、去了、吓人、要死、要 命、不行、够呛、够受的、够瞧的、多、远、坏、凶、慌、厉害、邪乎、邪行、 可怜、不得了、了不得”.
Còn hình thức thuật ngữ bổ ngữ trình độ(述程式) có bảng so sánh và không có bảng so sánh, bảng so sánh hình thức thuật ngữ bổ ngữ trình độ (述程 式) do “多”, “远” đảm nhận. Hình thức thuật thuật ngữ bổ ngữ trình độ không bảng so 8 sánh lại được phân thành hình thức liên kết thuật ngữ bổ ngữ trình độ và hình thức tổ hợp bổ ngữ trình độ, hình thức liên kết thuật ngữ bổ ngữ trình độ có“死、去、透、透 顶、着了、坏、极、不过”, hình thức tổ hợp bổ ngữ trình độ có“要命、邪乎、吓人、 可怜、够瞧的、凶、邪行、够呛、够受的、够劲、不行、可以、什么似的、很、 了不得、不得了、要死、慌、厉害”. Zhang Yisheng (2000) cho rằng trong Hán ngữ hiện đại có thể đảm nhận phó từ của bổ ngữ đều là phó từ trình độ, và từ chức năng của cú pháp, phân nó thành hai loại, một loại là kiêm đảm nhận bổ ngữ cho phó từ bổ ngữ khả năng , và những chức năng cơ bản kia đảm nhận trạng ngữ, nhưng có những trường hợp ngữ nghĩa không thay đổi đảm nhận vai trò bổ ngữ, ví dụ như “很、极、死、甚、尽、煞、至、多、远、死死、非 常、异常、万分、绝顶、无比、过分”, tổng cộng có 16 bổ ngữ, một loại là phó từ bổ ngữ duy nhất, chính là những phó từ chỉ đảm nhận vai trò bổ ngữ, trong đó bao gồm 5 phó từ duy nhất có ý nghĩa đặc biệt “透、慌、坏、绝伦、透顶”và 11 phó từ chuẩn đã chuyển hóa hoặc đang chuyển hóa. Liu Yue Hua(2001) từ hình thức của bổ ngữ trình độ phân thành hai loại gồm bổ ngữ dùng “得” để liên kết và không dùng “得” để liên kết.
Bổ ngữ không dùng “得” để liên kết có phó từ “极” , và động từ “透”、“死”、“坏”、“多”. Ngoài ra còn có“远”、 “着了”、“去了”. Bổ ngữ trình độ dùng “得” để liên kết chủ yếu có các phó từ “很”、 “慌”、 “不得了”、“要死”、“要命”、“不行”、“可以”、“邪乎”、“够呛”、“够受的”、 “厉害”v. Cai Li (2012) liệt kê ra 42 bổ ngữ trình độ trong tiếng Hán hiện đại, ngoài việc từ cấu trúc câu tiến hành phân loại chi tiết, còn từ góc độ ý nghĩa làm khảo sát, bà chỉ ra: Bổ ngữ trình độ có ý nghĩa tích cực (4 bổ ngữ): 无比、绝顶、绝伦、了不得 Bổ ngữ trình độ ý nghĩa tiêu cực (19 bổ ngữ): 死、透、慌、疯、傻、蒙、坏、 凶、透顶、要命、要死、邪行、邪乎、不堪、过分、吓人、够呛、够受的、离谱 9 Bổ ngữ trình độ có ý nghĩa trung tính (20 bổ ngữ): 极、很、多、厉害、可以、 不行、不成、可怜、去了、异常、非常、万分、出奇、惊人、不过、之至、够劲、 够瞧的、不得了、什么似的。 1.2 Nghiên cứu ngữ pháp hóa của bổ ngữ trình độ Theo ứng dụng lý luận ngữ pháp hóa trong nghiên cứu tiếng Trung, ảo hóa ngữ nghĩa của bổ ngữ trình độ cũng thu hút sự chú ý của các học giả, ví dụ, Zhu Saiping (2006) dùng từ loại “死” để nghiên cứu và đạt được ý nghĩa cực tính của bổ ngữ trình độ, và cho rằng đạt được ý nghĩa cực tính của từ loại “死” là kết quả hai lần bước nhảy trong nghĩa của từ.
Li Zongjiang (2007) miêu tả sự phát triển của các từ ảo hóa mang tính động từ “死、要死、要命” và chỉ ra cơ chế ảo hóa của nó là tách rời ngữ cảnh và suy rộng ra, Zong Shouyun (2010) tiến hành nghiên cứu đối với ngữ nghĩa ảo hóa và phiếm hóa của của bổ ngữ trình độ “透”, chỉ ra cách dùng ngữ pháp của bổ ngữ trình độ là do sự phát triển của cách dùng bổ ngữ kết quả mà ra, cơ chế ảo hóa của “透”là ẩn dụ và chuyển dụ; Tang Xianqing, Chen Li (2010) khảo sát quá trình phát triển cách dùng của“极”、“死” làm bổ ngữ trình độ, và từ quan điểm phân loại học tìm kiếm cơ sở lý luận của“极”、“死”làm bổ ngữ trình độ.3 Nghiên cứu việc giảng dạy bổ ngữ trình độ Jing Cheng (1995) đối với tổng thể việc giảng dạy cấu trúc thuật ngữ bổ ngữ trình độ đưa ra kiến nghị, ông cho rằng trong việc dạy bổ ngữ cần phải tuân theo nguyên tắc tuần hoàn và dạy từ dễ đến khó. Lv Wen Hua (1995,2001) phân loại cơ bản bổ ngữ trong tiếng Hán hiện đại, ông cho rằng tôn chỉ dạy học là rõ ràng dễ hiểu, từ đó phân loại khó và dễ, vì vậy Lv Wen Hua không để bổ ngữ trình độ đứng đơn độc mà chuyển hóa thành bổ ngữ tình thái. Sun De Jin (2002) cho lưu học sinh tiến hành khảo sát mối liên hệ chữ “得” trong bổ ngữ trình độ, ông cho rằng lưu học sinh dùng bổ ngữ trình trình độ nhiều nhất là bổ ngữ trình độ “多”、 “很” sau đó là “不得了”, học sinh khi được học bổ ngữ 10 trình độ sẽ xuất hiện vấn đề về quy tắc phiếm hóa của bổ ngữ trình độ, và cấu trúc có thể thông qua chỉnh sửa sách lược dạy học mà giảm bớt vấn đề phát sinh vấn đề.4 Hình thức bổ ngữ trình độ tổ hợp và hình thức bổ ngữ trình độ kết hợp Hình thức tổ hợp bổ ngữ trình độ là chỉ dạng cấu trúc được sử dụng giữa vị ngữ và bổ ngữ liên kết với trợ từ “得”, bao gồm “很、要命、要死、厉害、不得了、不行、 慌” trong số 12 bổ ngữ trình độ được nghiên cứu. Ví dụ: (1) 夏兴说:“这方法好得很。” Có nghĩa: Hạ Hưng nói: “Phương pháp này rất tốt.” (2) 丁虹伽瞌睡得要命。 Có nghĩa: Đinh Hồng Gia buồn ngủ kinh khủng.
(3) 今天坐飞机,我头晕得厉害。 Có nghĩa: Hôm nay ngồi máy bay, tôi chóng mặt kinh khủng. Hình thức bổ ngữ trình độ kết hợp là chỉ bổ ngữ trình độ “极、死、坏、透” trực tiếp theo sau vị ngữ, không cần chèn các thành phần khác vào giữa, hình thức này phải thêm “了”ở cuối câu, ví dụ: (4) 他看起来很老实,其实狡猾极了。 Có nghĩa: Nhìn anh ta có vẻ rất thật thà, nhưng thực chất rất là gian xảo. (5) 早上喝牛奶确让人舒服透了。 Có nghĩa: Buổi sáng uống sữa quả thật làm cho chúng ta cảm thấy thoải mái. Ngoài ra còn có một bổ ngữ trình độ “多” có thể được sử dụng cả ở hình thức tổ hợp và hình thức kết hợp, ví dụ: (6) 北京比上海冷得多。 Có nghĩa: Bắc Kinh lạnh hơn Thượng Hải nhiều.
(7) 北京比上海冷多了。 Có nghĩa: Bắc Kinh lạnh hơn Thượng Hải nhiều.5 Bổ ngữ trình độ mang ý nghĩa tích cực, bổ ngữ mang ý nghĩa trung tính và bổ ngữ trình độ mang ý nghĩa tiêu cực Khi sự trừu tượng hoá của nghĩa từ đạt đến một mức độ nhất định sẽ dẫn đến sự ảo hoá ngữ nghĩa, chẳng hạn sau khi một số từ ngữ bổ ngữ trình độ đóng vai trò bổ ngữ trình độ thì nghĩa từ vựng thực ban đầu dần dần bị ảo hoá và trừu tượng hoá, trở thành những từ ngữ thể hiện mức độ ý nghĩa, nhưng vẫn có mối liên hệ nhất định với nghĩa gốc của nó. Về màu sắc cảm xúc, bổ ngữ trình độ có thể được phân thành bổ ngữ trình độ mang ý nghĩa tích cực, bổ ngữ mang ý nghĩa trung tính và bổ ngữ trình độ mang ý nghĩa tiêu cực. Ví dụ: Biểu thị ý nghĩa tích cực: 了不得、绝顶 Biểu thị ý nghĩa trung tính: 很、极、多、厉害、不得了、不行、坏、要命 Biểu thị ý nghĩa tiêu cực: 死、透 (8) 这个咖啡馆安静得不得了,特别适合看书和学习。 Có nghĩa: Quán cà phê này cực kỳ yên tĩnh, đặc biệt thích hợp để đọc sách và học tập. (9) 这片树林安静得要命,使人特别害怕。 Có nghĩa: Khu rừng này yên tĩnh quá mức, khiến người ta cảm thấy đáng sợ.