Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LỖI 1. Lỗi và cơ chế hình thành hành vi phạm tội Tội phạm trước hết là một hành vi. Chính vì thế, tội phạm bao giờ cũng được thực hiện bởi chủ thể xác định. Không thể có hành vi xuất hiện bên ngoài Thế giới khách quan mà không có chủ thể.
Theo Từ điển, hành vi được hiểu là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một con người trong một hoàn cảnh cụ thể. Theo quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, hành vi của con người suy cho cùng là do điều kiện xã hội khách quan quyết định. Tuy nhiên, đó phải là quá trình diễn ra phức tạp, không đơn thuần chỉ là kết quả của sự lệ thuộc tuyệt đối của con người vào hoàn cảnh khách quan đó. Trong quá trình này, ý chí của con người, nhận thức của con người có vị trí độc lập, có ý nghĩa không kém phần quan trọng, mặc dù bản thân ý chí và nhận thức cũng lại do các điều kiện khách quan quyết định.
Quan điểm trên cho thấy rằng, sự tác động của môi trường bên ngoài để dẫn đến hành vi đều phải gián tiếp thông qua ý thức và ý chí của con người. Do đó, có thể hiểu rằng: một hành vi phạm tội được thực hiện - đó không thể là sự phản ánh trực diện của con người đối với hoàn cảnh mà là kết quả của sự tương tác giữa một bên là điều kiện và môi trường xã hội với một bên (khác) là bản thân con người ấy.1: Về cơ chế hình thành hành vi Cá nhân Môi trường XH - Quan điểm xã hội - Môi trường chung Quyết định Hành vi - Các đặc điểm tâm - Môi trường cụ thể sinh lý 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một hành vi khách quan đơn thuần xảy ra ngoài sự nhận thức chủ quan của cá nhân không thể là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự; những hậu quả và tác hại hiện hữu về vật chất hay tinh thần do những hành vi như vậy gây ra không thể là căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ thể của hành vi, bởi lẽ, chủ thể của hành vi không có ý thức gì về hành vi đó cũng như hậu quả của hành vi. Hành vi của con người bao giờ cũng là sự thống nhất giữa biểu hiện cụ thể bên ngoài Thế giới khách quan và những nội dung tâm lý bên trong (ý chí) của chủ thể thực hiện hành vi chi phối hành vi đó. Tội phạm được biểu hiện bởi hành vi, do đó nó cũng là sự thống nhất giữa hai mặt khách quan và chủ quan.
Hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội luôn gắn liền với các biểu hiện bên ngoài của tội phạm. Hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ được coi là tội phạm, nếu hành vi đó được thực hiện trong một thái độ tâm lý nhất định của con người đối với hành vi đó và hậu quả của hành vi đó gây ra hoặc đối với khả năng phát sinh hậu quả từ hành vi đó. Pháp luật từ xưa đến nay, bao giờ cũng quan tâm đến yếu tố chủ quan của hành vi vi phạm. Hành vi vi phạm pháp luật dù thể hiện, gây ra thiệt hại nhưng không có sự thống nhất với mặt chủ quan của người gây thiệt hại sẽ không bị bắt gánh chịu trách nhiệm pháp lý.
Con người tồn tại trong Thế giới bị chi phối bởi những qui luật khách quan và hoạt động của con người bị chi phối bởi những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể. Tất cả những động cơ thúc đẩy con người hành động không phải bộc phát một cách ngẫu nhiên trong ý thức của con người mà được hình thành một cách có qui luật. Đó là kết quả giao tiếp của người đó với người khác, sự phát triển tâm lý trước đây, sự phản ánh những sự vật, hiện tượng tác động trực tiếp đến người ấy. Thông qua hoạt động tâm lý con người hoạt động có ý thức, từ đó quyết định sự hình thành và phát triển xã hội [37, tr.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xử sự của con người có tính qui luật nhưng không phải mang tính tuyệt đối. Khi sống trong cùng một xã hội, cùng một điều kiện nhưng có người vi phạm các chuẩn mực xã hội, có người thực hiện tốt các trách nhiệm của một thành viên trong xã hội, có người phạm tội, có người không phạm tội, có người phạm tội một lần, có người phạm tội nhiều lần… Chủ nghĩa Mác - Lênin công nhận tính qui luật của xử sự con người nhưng cũng công nhận sự tự do ý chí của con người. Hoạt động của con người bị chi phối bởi các qui luật khách quan nhưng nhờ hoạt động ý thức, con người đã nhận thức và vận dụng các qui luật đó vào việc thực hiện các mục đích của mình. Đó chính là sự tự do ý chí.
Tuy nhiên, tự do ý chí của con người không phải là sự suy nghĩ tuyệt đối độc lập, mà nó bị chi phối bởi các qui luật tự nhiên, tự do ý chí là năng lực quyết định của một người khi nhận thức được nó. Hêghen nói: “Tự do là nhận thức được cái tất yếu, tất yếu sẽ mù quáng khi con người chưa nhận thức được nó” [2, tr. Tất cả những gì tác động đến con người, thúc đẩy hành vi đều phải thông qua bộ óc của con người. Hoạt động của con người không phải là kết quả tác động trực tiếp của các điều kiện lịch sử mà chịu ảnh hưởng trực tiếp của hoạt động tâm lý bên trong con người.
Con người có sự tự do của mình, nghĩa là có quyền lựa chọn một xử sự phù hợp với các qui luật, đó là sự tự do thực sự. Ngược lại, con người sẽ bị tước bỏ sự tự do của mình khi xử sự không phù hợp với qui luật. Theo chủ nghĩa Mác - Lênin thì chỉ có sự tự do tương đối trong khuôn khổ các điệu kiện lịch sử, xã hội cụ thể và phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội. Vì vậy, mỗi cá nhân trong xã hội dựa trên cơ sở sự tự do của mình phải đáp ứng những đòi hỏi có tính qui luật của xã hội là pháp luật và đạo đức xã hội.
Đó là vấn đề trách nhiệm của cá nhân trong xã hội, phù hợp với sự tự do của cá nhân nhằm bảo đảm tôn trọng sự tự do của cá nhân khác. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tóm lại, con người có khả năng nhận thức và vận dụng tốt các qui luật của xã hội để giành lấy tự do cá nhân. Tuy nhiên, không phải lúc nào họ cũng là như vậy. Đôi lúc, họ vẫn nhận thức được các qui luật đó nhưng không phải họ vận dụng nó để thực hiện hành vi một cách phù hợp với sự tự do của người khác mà ngược lại, họ hành động sai với qui luật.
Đó là ý chí của cá nhân người muốn tự tước bỏ tự do của người khác và hậu quả cũng tự tước bỏ sự tự do của mình. Pháp luật buộc họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đó của họ là phù hợp. Tự do là cơ sở của trách nhiệm và trách nhiệm chỉ đặt ra cho một người khi họ có tự do. Con người xử sự trái với lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội trong khi có tự do thì có nghĩa họ có lỗi.
Trách nhiệm chỉ đặt ra khi họ có lỗi. Tự do, trách nhiệm là cơ sở lý luận của lỗi. Đúng như Ph. Ăngghen đã viết: “Người ta không thể bàn bạc đúng đắn về đạo đức và pháp quyền, mà lại không nói đến cái gọi là tự do ý chí, đến trách nhiệm của con người, đến quan hệ giữa tất yếu và tự do” [2, tr.
Tự do ý chí là cơ sở của lỗi trong luật hình sự Con người phải chịu trách nhiệm về hành vi gây thiệt hại cho xã hội của mình, vì con người có khả năng nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi và có khả năng điều khiển được hành vi theo những đòi hỏi của xã hội. Một người chỉ phải chịu trách nhiệm về hành vi gây thiệt hại cho xã hội của mình trong trường hợp người đó đã lựa chọn hành vi này khi có đủ điều kiện lựa chọn hành vi khác không gây thiệt hại cho xã hội. Đó là những trường hợp có lỗi. Trong trường hợp này tội phạm được coi là một xử sự mất tự do.
Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã mà họ thực hiện và hậu quả đó do hành vi đó gây ra cho xã hội. Con người chỉ có thể chịu trách nhiệm về hành vi của mình, về những gì con người đó hiểu được, những gì nằm trong tầm kiểm soát của sự nhận thức. Nó không thể 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phải chịu trách nhiệm về những gì tuy có liên quan đến việc làm của mình và thậm chí những gì đã dẫn đến hành vi đó, nhưng lại nằm ngoài nhận thức và ý thức của chủ thể. Từ đó cho thấy, không thể nói đến trách nhiệm nếu thiếu đi khả năng lựa chọn cách ứng xử và hành động của con người.
Việc coi lỗi là cơ sở về mặt chủ quan của trách nhiệm hình sự gắn liền với xuất phát từ mục đích của luật hình sự, của trách nhiệm hình sự và hình phạt. Chúng ta đều biết rằng, mục đích của Luật Hình sự và của trách nhiệm hình sự là giáo dục và cải tạo người phạm tội. Nếu trách nhiệm hình sự và hình phạt được đem áp dụng cho một người không kiểm soát được hành vi của mình, không nhận thức được về hành vi đó thì trách nhiệm hình sự và hình phạt sẽ không có ý nghĩa, thậm chí là vô nhân đạo, phi nhân tính. Luật hình sự của chúng ta cũng như đạo lý của nhân dân ta không chấp nhận những việc làm như truy cứu trách nhiệm người vô tội, những người còn nhỏ chưa hiểu được hành vi của mình.
Trong luật hình sự Việt Nam, nguyên tắc có lỗi là nguyên tắc cơ bản. Người phải chịu trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt nam không phải chỉ đơn thuần vì người này đã có hành vi khách quan gây thiệt hại cho xã hội mà còn vì đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi khách quan đó. Theo nguyên tắc này, luật hình sự Việt nam không chấp nhận việc “qui tội khách quan”, nghĩa là truy cứu trách nhiệm hình sự con người chỉ trên cơ sở hành vi khách quan mà không xét đến lỗi của họ.