Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Côn trùng là nhóm có số lượng loài phong phú nhất trong giới động vật, trong lớp côn trùng thì bộ Cánh cứng Coleoptera có thành phần loài đa dạng nhất với hơn 350.000 loài đã được biết đến. Phần lớn côn trùng vô hại, số loài gây hại chỉ chiếm chưa đến 0,5%. Côn trùng, mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn, đảm bảo sự cân bằng sinh thái trong các hệ sinh thái rừng. Phầ n lớn côn trùng thuô ̣c bô ̣ Cánh cứng có hai đôi cánh, đôi cánh trước có cấ u ta ̣o cấ u ta ̣o bằ ng chấ t sừng cứng, đôi cánh sau bằ ng chấ t màng, thường dài hơn đôi cánh trước và ở tra ̣ng thái nghỉ đôi cánh sau thường xế p la ̣i dưới đôi cánh trước.
Miêng ̣ của các loài côn trùng thuô ̣c bô ̣ này có kiể u gă ̣m nhai, hai hàm trên rấ t phát triể n. Côn trùng Cánh cứng thuô ̣c nhóm biế n thái hoàn toàn. Sâu non có nhiề u hin ̀ h da ̣ng khác nhau, nhưng đa số có da ̣ng chân cha ̣y hoă ̣c da ̣ng bo ̣ hung. Nhô ̣ng đa số là nhô ̣ng trầ n.
Có nhiề u loài làm nhô ̣ng trong đấ t và đươ ̣c bao bo ̣c bằ ng kén đấ t hoă ̣c tàn dư thực vâ ̣t. Có mô ̣t số loài như Xén tóc, nhô ̣ng đươ ̣c bao bo ̣c bằ ng mô ̣t lớp kén mỏng. Côn trùng thuô ̣c bô ̣ Cánh cứng thường đẻ trứng trong đấ t, trong vỏ thân cây, trong mô lá, trong nước. Trứng có hình cầ u hoă ̣c hình bầ u du ̣c.
Thức ăn của côn trùng Cánh cứng rấ t phức ta ̣p, đa số ăn thực vâ ̣t, nhưng cũng có nhiề u loài ăn đô ̣ng vâ ̣t, chuyên tấ n công các loa ̣i côn trùng nhỏ khác, có loài la ̣i chuyên ăn các chấ t hữu cơ mu ̣c nát và những thi thể đô ̣ng thực vâ ̣t, còn gồ m cả những loài côn trùng chuyên ăn các bào tử nắ m, và mô ̣t số ít loài thuô ̣c nhóm kí sinh hoă ̣c số ng cô ̣ng sinh trong ổ những côn trùng số ng thành xã hô ̣i. Đố i với những loài ăn thực vâ ̣t, quan hê ̣ dinh dưỡng cũng đa da ̣ng, có thể tấ n công tấ t cả các bô ̣ phâ ̣n cây, rấ t nhiề u loài ăn ha ̣i lá, đu ̣c thân, cành, ha ̣i hoa, quả, mô ̣t số loài đu ̣c khoét trong lá, tấ n công rễ, vỏ cây. c 5 Chu kỳ số ng của Cánh cứng rấ t khác nhau, mỗi năm có từ 3 – 4 thế hê ̣ hoă ̣c cầ n nhiề u năm để hoàn thành mô ̣t thế hê ̣. Tình hình nghiên cứu về côn trùng bộ Cánh cứng trên thế giới Hô ̣i côn trùng ho ̣c đầ u tiên trên thế giới đươ ̣c thành lâ ̣p vào năm 1745 ta ̣i nước Anh.
Hô ̣i côn trùng ở Nga đươ ̣c thành lâ ̣p vào năm 1859. Nhà côn trùng người Nga Keppen (1882 -1883) đã xuấ t bản cuố n sách gồ m 3 tâ ̣p về côn trùng lâm nghiê ̣p, trong đó đề câ ̣p nhiề u về côn trùng bô ̣ Cánh cứng. Từ những cuô ̣c du hành của các nhà nghiên cứu người Nga như: Potarin (1899 – 1976), Provorovski (1895 – 1979), Kozlov (1883 – 1921) đã xuấ t bản ra các tài liê ̣u về côn trùng thuô ̣c bô ̣ Cánh cứng. Nhà khoa ho ̣c vi ̃ đa ̣i người Thu ̣y Điể n Carl von Linne đươ ̣c coi là người đầ u tiên đưa ra đơn vi ̣phân loa ̣i và đã xây dựng đươ ̣c mô ̣t bảng phân loa ̣i về đô ̣ng và thực vâ ̣t trong đó có côn trùng.
Sách phân loa ̣i thiên nhiên của ông đươ ̣c tái xuấ t bản tới 10 lầ n. Các tác giả như Lamarck (thế kỉ 19), Handrich (thế kỉ 20), Krepton (1904), Weber (1938) đã liên tiế p đưa ra các bảng phân loa ̣i côn trùng liên quan đế n Mo ̣t, Xén tóc và nhiề u loài côn trùng Cánh cứng khác. Ilinski đã xuấ t bản cuố n “Phân loại côn trùng dựa vào trứng" trong đó đề cấ p đế n mô ̣t số loài ho ̣ bo ̣ Cánh cứng ăn lá. Năm 1965, Viê ̣n hàn lâm khoa ho ̣c Nga đã xuấ t bản 11 tâ ̣p phân loa ̣i côn trùng thuô ̣c vào châu Âu, trong đó tâ ̣p thứ 5 chuyên về phân loa ̣i bô ̣ Cánh cứng (Coleoptera).
Trong tâ ̣p này đã xây dựng đươ ̣c bảng tra 1350 giố ng thuô ̣c ho ̣ bô ̣ Cánh cứng ăn lá (Chrysomelidae). Năm 1987 Thái Bang Hoa và Cao Thu Lâm xuấ t bản cuố n “Côn trùng rừng Vân Nam’’, trong đó đã xây dựng mô ̣t bảng tra của ba ho ̣ phu ̣ Chrysomelidae. Cu ̣ thể ho ̣ phu ̣ Chrysomeline đã giới thiêụ 35 loài, ho ̣ phu ̣ Alticinae đã giới thiê ̣u 39 loài và ho ̣ phu ̣ Galirucinae đã giới thiêụ 93 loài. c 6 Năm 1992, Tào Thấ t Nam đưa ra các tài liê ̣u về thiên đich ̣ rấ t đáng quan tâm là “Tạp chí Bọ rùa Vân Nam’’.
Ở My,̃ theo tài liêụ “Sánh hướng dẫn về liñ h vực côn trùng ở Bác châu Mỹ thuô ̣c Mexico’’ của Donal. Borror và Richard. White (1970 – 1978) đã đề câ ̣p đế n đă ̣c điể m phân loa ̣i của 9 ho ̣ phu ̣ Chrysomelidae. Năm 1910 – 1940, Volka và Sonkling đã xuấ t bản mô ̣t tài liê ̣u về côn trùng Bô ̣ Cánh cứng (Coleoptera) gồ m 240.000 loài, đươ ̣c in trong 31 tâ ̣p.
N Boronxop đã viế t giáo trình “Côn trùng rừng’’. Trong tác phẩ m này đã đề câ ̣p đế n nhiề u loài con trùng bô ̣ Cánh cứng ha ̣i như: Mo ̣t, Xén tóc, Sâu đinh, Bo ̣ lá. N Xegolop viế t cuố n “Côn trùng học’’ có giới thiêụ loài sâu Cánh cứng ha ̣i khoai tây Leptonotarsa decemlineata, là loài ha ̣i nguy hiể m đố i với khoai tây và mô ̣t số cây trồ ng nông nghiê ̣p khác. Các nhà nghiên cứu thuô ̣c Đa ̣i ho ̣c Northern British Columbia và Đa ̣i ho ̣c Alberta đã giải mã bô ̣ gen của bo ̣ Cánh cứng đu ̣c gỗ thông, có tên tiếng Anh là: Mountainpine beetle, và tên khoa ho ̣c là: Dendroctonus Pondersosae, loài này phá ha ̣i các rừng trồ ng thông ở British Columbia, Canada.
Đây là loài bo ̣ Cánh cứng thứ hai đươ ̣c giải mã gen sau sự kiê ̣n giải mã gen loài “red flour beetle’’, Tribolium confusum. Năm 1966, Bey đã nghiên cứu, phát hiêṇ và mô tả đươ ̣c 300.000 loài côn trùng thuô ̣c bô ̣ Cánh cứng. Bộ Cánh cứng (Coleoptera) là một trong những bộ có các loài côn trùng gây hại nguy hiểm cho ngành Nông Lâm nghiệp, các loài gây hại không chỉ cho loài cây lá rộng, lá kim mà cả các loài cây công nghiệp. Trong số những loài côn trùng đó nổi lên nhất là loài xén tóc và mọt, đây là hai loài Cánh cứng gây hại nhiều nhất.von Breuning (1970) đã mô tả khá rõ và đầy đủ về đặc điểm hình thái của một c 7 giống thuộc họ Xén tóc (Cerambycidae) ở khu vực Lào, Trung Quốc và một phần Việt Nam.
Theo các nhà khoa học trên thế giới đã xác định rất nhiều loại mọt hại vỏ cây sống làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây, thậm chí còn làm chết cây và gây ra thành dịch trong đó có 6 loài chủ yếu như: Ips calligraphus Germar, Ips grandicollis Eichhoff, Ips avulsus Eichhoff, Dendroctonus frontalis Zimmerman, Dendroctonus terebrans Olivier và Dendroctonus pondesae Hopkins (Albert E.G, 1999; Hiratsuka Y và cộng sự, 2004; Jame R.M và cộng sự,2000 ; Jeffrey M. Sự gây hại và trở thành dịch của loài Mọt Dendroctonus pondesae Hopkins đối với thông ở vườn quốc gia Banff thuộc bang Alberta năm 1940 – 1944 và miền tây nam bang Alberta vào năm 1977 – 1985 thì phần lớn loài Mọt này tấn công chủ yếu vào những cây bị tốn thương cơ giới hoặc cây sinh trưởng và phát triển kém. Gần đây loài Mọt Tomicus piniperda đang trở thành mối nguy hiểm cho loài thông ở các nước Châu Âu. Cho nên loài Mọt gỗ nói chung, Xén tóc và một số loài côn trùng nguy hại khác ngày càng được quan tâm nghiên cứu bởi những tác hại do chúng gây ra.
Tình hình nghiên cứu trong nước Năm 1897 đoàn nghiên cứu tổng hợp người Pháp tên là "Mission Parie" đã điều tra côn trùng Đông Dương, đến năm 1904 kết quả đã được công bố. Về côn trùng đã phát hiện được 1020 loài trong đó có 541 loài thuộc Bộ Cánh cứng, 168 loài Bộ Cánh vảy, 139 loài Chuồn chuồn, 59 loài mối, 55 loài Bộ Cánh màng, 9 loài Bộ 2 cánh và 49 loài thuộc các bộ khác. Năm 1921 Vitalis de Salvza chủ biên tập "Faune Entomologi que de Lindochine" đã công bố thu thập 3612 loài côn trùng. Riêng miền Bắc Việt Nam có 1196 loài.
Năm 1968 và sau này Medvedev đã công bố một công trình về Họ Bọ lá Chrysomelidae ở Việt Nam trong đó có 8 loài mới đối với khoa học. Trong c 8 cuốn "Sâu hại rừng và cách phòng trừ" của tác giả Đặng Vũ Cẩn 1973 có giới thiệu một số loại sâu họ bọ hung hại lá bạch đàn là: Bọ hung nâu lớn (Holotrichia sauteri Mauser); Bọ hung nâu xám bụng dẹt (Adoretus compressus); Bọ hung nâu nhỏ (Maladera sp), sâu trưởng thành của nhóm này thường sống ở trên tất cả các giống bạch đàn. Qua điều tra ở trại Long Phú Hải - Đông Triều - Quảng Ninh cho thấy con Maladera sp gây hại bạch đàn trắng nhiều hơn bạch đàn đỏ. Đối tượng hại của chúng là lá và ngọn non của bạch đàn, hình thức hại là gặm lá, song ít có hiện tượng ăn hết toàn bộ lá, vì thế các rừng bạch đàn ngay cả trong những lúc có dịch sâu cũng không xảy ra hiện tượng bị trụi lá, chẻ cành.
Nguyên nhân của hiện tượng này có thể do hiện tượng ăn bổ sung của sâu mẹ. Bên cạnh đó tác giả còn cho biết thêm một số loài sâu khác như: + Bọ vừng (Lepidota bioculata) chúng ăn cả cây nông nghiệp và cây lâm nghiệp, nhất là những cây như Phượng vĩ, Muồng hoa vàng, Phi lao, Bạch đàn chúng phân bố khá rộng ở miền Bắc đặc biệt là vùng đất cát hoặc cát pha. + Bọ sừng (Xylotrupes gideon L.) thuộc Bộ Cánh cứng, bộ phụ đa thực.Họ Bọ hung chúng ăn hại cả cây nông nghiệp và cây lâm nghiệp nhưng thích gặm vỏ non của các loại cây gỗ thuộc họ đậu như Phượng vĩ, Dương hòe chúng phân bố rộng khắp miền Bắc.