Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quan hệ lao động được hình thành và duy trì trên cơ sở hợp đồng lao động. Đây là loại giao dịch pháp lý đặc thù liên quan trực tiếp đến quyền nhân thân và sức lao động của con người. Cùng với sự phát triển kinh tế, các biến động trong quan hệ lao động diễn ra thường xuyên, dẫn đến hiện tượng chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn từ cả hai phía. Thực tiễn ghi nhận tình trạng người lao động tự ý bỏ việc sau các kỳ nghỉ lễ, Tết (đặc biệt là lao động xuất thân từ nông thôn làm việc tại các khu công nghiệp), cũng như tình trạng người sử dụng lao động sa thải lao động tùy tiện nhằm tránh thưởng Tết hoặc đối với lao động nữ mang thai. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật lao động Việt Nam dù đã qua nhiều lần sửa đổi (1994, 2002, 2006, 2007 và ban hành Bộ luật Lao động 2012) vẫn còn bộc lộ một số điểm bất cập, chưa hoàn toàn tương thích với các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).
Từ bối cảnh thực tiễn và yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, đề tài tập trung giải quyết 03 nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng lao động và chế định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động cũng như người sử dụng lao động.
- Phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành và khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại Công ty TNHH Xây dựng SAMHO, chỉ ra những bất cập, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.
- Đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại Công ty TNHH Xây dựng SAMHO trong giai đoạn tiếp theo.
Về đối tượng nghiên cứu, khóa luận tập trung vào các quy định pháp luật điều chỉnh việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và thực tiễn thực hiện các quy định này tại Công ty TNHH Xây dựng SAMHO.
Về phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh thực tiễn pháp lý tại Việt Nam, cơ chế quản lý nhà nước, hoạt động xét xử của ngành Tòa án và trọng tâm thực tế tại Công ty TNHH Xây dựng SAMHO.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tiến trình phát triển của chế định từ Sắc lệnh 29/SL năm 1947, Sắc lệnh 77/SL năm 1950, Bộ luật Lao động năm 1994 qua các lần sửa đổi (2002, 2006, 2007), tập trung trọng tâm vào Bộ luật Lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực tại thời điểm nghiên cứu (Nghị định 44/2003/NĐ-CP, Nghị định 44/2013/NĐ-CP, Nghị định 05/2015/NĐ-CP). Thời gian thực hiện khóa luận diễn ra trong gần 01 tháng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm pháp lý, quy định của pháp luật thực định và các chuẩn mực pháp lý quốc tế:
- Khái niệm hợp đồng lao động: Tiếp cận từ góc độ pháp lý quốc tế (Luật pháp Anh, định nghĩa của ILO) và pháp luật Việt Nam theo Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2012, xác định HĐLĐ là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên.
- Khái niệm và phân loại đơn phương chấm dứt HĐLĐ: Xác định đây là hành vi pháp lý đơn phương của một bên nhằm kết thúc hiệu lực hợp đồng trước thời hạn. Phân loại căn cứ theo chủ thể (người lao động, người sử dụng lao động) và tính chất pháp lý (chấm dứt đúng pháp luật hoặc trái pháp luật).
- Khung pháp luật điều chỉnh: Các điều khoản trọng tâm của Bộ luật Lao động năm 2012, bao gồm Điều 33, Điều 37 (quyền đơn phương của NLĐ), Điều 38 (quyền đơn phương của NSDLĐ), Điều 39, Điều 41 (hành vi chấm dứt trái pháp luật), Điều 42 (nghĩa vụ khi chấm dứt trái luật), Điều 44 (chấm dứt do thay đổi cơ cấu, lý do kinh tế), Điều 48 (trợ cấp thôi việc), Điều 156. Ngoài ra, đề tài đối chiếu với Công ước số 158 của ILO về chấm dứt việc làm do người sử dụng lao động chủ động.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để mổ xẻ các quy phạm pháp luật, hệ thống hóa các đặc điểm, nguyên tắc pháp lý của chế định đơn phương chấm dứt HĐLĐ.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của Bộ luật Lao động 2012 với các văn bản pháp luật trước đây (Sắc lệnh 29/SL, BLLĐ 1994 qua các lần sửa đổi) và chuẩn mực quốc tế của ILO.
- Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Đưa ra các nhận định từ nguyên lý lý luận đến thực tiễn và từ thực trạng tranh chấp tại doanh nghiệp, tòa án để khái quát thành các lỗ hổng lập pháp.
- Phương pháp thống kê và nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát, xử lý dữ liệu xét xử tranh chấp lao động của ngành Tòa án giai đoạn 2011–2013 và các vụ việc điển hình tại Công ty TNHH Xây dựng SAMHO.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam; Giáo trình Luật Lao động (Trường Đại học Luật TP.HCM, NXB Công an Nhân dân do Chu Thanh Hường chủ biên); các công trình nghiên cứu trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Khoa học pháp lý; luận án tiến sĩ luật học của ThS. Nguyễn Thị Hoa Tâm; Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2014; tài liệu và hồ sơ quản lý lao động nội bộ của Công ty TNHH Xây dựng SAMHO.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
Chương I phân tích hệ thống lý luận nền tảng của chế định hợp đồng lao động và đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:
- Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng lao động: Tác giả chỉ rõ 05 đặc trưng cốt lõi: (1) Sự phụ thuộc pháp lý của NLĐ vào NSDLĐ; (2) Đối tượng của hợp đồng là việc làm có trả công; (3) Hợp đồng do đích danh NLĐ thực hiện (tính nhân thân); (4) Thỏa thuận của các bên bị giới hạn bởi các khung pháp lý bắt buộc; (5) Hợp đồng được thực hiện liên tục trong một khoảng thời gian xác định hoặc vô định.
- Bản chất và đặc điểm đơn phương chấm dứt HĐLĐ: Đây là quyền năng pháp lý của các bên nhưng làm chấm dứt quan hệ lao động trước hạn, khiến công việc dở dang và phát sinh nhiều hệ quả pháp lý phức tạp (bồi thường thiệt hại, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, nghĩa vụ báo trước). Hành vi này cũng liên quan đến vai trò giám sát, bảo vệ quyền lợi của tổ chức Công đoàn.
- Điều kiện và thủ tục chấm dứt hợp pháp theo Bộ luật Lao động 2012:
- Đối với người lao động (Điều 37): Có quyền đơn phương chấm dứt đối với HĐLĐ xác định thời hạn khi có lý do chính đáng luật định (không được bố trí đúng việc/địa điểm, không được trả lương đầy đủ, bị ngược đãi/cưỡng bức/quấy rối, bản thân hoặc gia đình khó khăn, được bổ nhiệm chức vụ nhà nước, lao động nữ mang thai, ốm đau điều trị kéo dài). Thời hạn báo trước được phân định: 03 ngày làm việc, 30 ngày hoặc theo chỉ định y tế. Đối với HĐLĐ không xác định thời hạn, NLĐ có quyền chấm dứt không cần lý do nhưng phải báo trước ít nhất 45 ngày.
- Đối với người sử dụng lao động (Điều 38): Được đơn phương chấm dứt khi NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc; NLĐ ốm đau điều trị dài ngày chưa hồi phục (12 tháng đối với hợp đồng không xác định thời hạn, 06 tháng đối với hợp đồng xác định thời hạn, quá nửa thời hạn với hợp đồng dưới 12 tháng); do thiên tai, hỏa hoạn, lý do bất khả kháng buộc phải thu hẹp sản xuất; NLĐ không có mặt sau thời hạn tạm hoãn. Thời hạn báo trước bắt buộc: 45 ngày (hợp đồng không xác định thời hạn), 30 ngày (hợp đồng xác định thời hạn), hoặc 03 ngày làm việc (trường hợp ốm đau hoặc hợp đồng mùa vụ).
- Hậu quả pháp lý: Phân tích cụ thể trách nhiệm bồi thường và hoàn trả chi phí khi một trong hai bên chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật theo Điều 41, 42 Bộ luật Lao động 2012.
- Nguyên tắc điều chỉnh: Nhấn mạnh nguyên tắc xuyên suốt là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động gắn liền với việc bảo vệ quyền quản lý hợp pháp của người sử dụng lao động.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG SAMHO
Chương 2 đi sâu vào thực trạng áp dụng luật tại doanh nghiệp và phân tích các số liệu tranh chấp trên bình diện quốc gia:
- Thực tiễn tại Công ty TNHH Xây dựng SAMHO: Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thi công xây dựng, đặc thù sử dụng nhiều lao động trực tiếp trên các công trường. Các nhân tố ảnh hưởng lớn đến việc chấm dứt hợp đồng bao gồm tính chất công việc nặng nhọc, biến động nhân sự liên tục và đặc biệt là công ty chưa thành lập bộ phận/phòng pháp chế độc lập.
- Các vi phạm phổ biến tại SAMHO:
- Người lao động tự ý bỏ việc trái pháp luật: Điển hình là trường hợp công nhân A ký HĐLĐ xác định thời hạn 01 năm làm việc tại công trường; sau 02 tháng làm việc, anh A tự ý vắng mặt, nghỉ hẳn không báo trước và không được sự đồng ý của quản đốc hay người quản lý; công ty không thể liên lạc được để xử lý trách nhiệm bồi thường. Nhiều trường hợp tương tự xảy ra do các điều khoản bồi thường trong hợp đồng của SAMHO chưa được soạn thảo chặt chẽ.
- Lao động nữ nghỉ chế độ thai sản: Sau thời gian nghỉ sinh con kéo dài, nhiều lao động nữ không có nhu cầu quay trở lại làm việc và tự ý chấm dứt HĐLĐ.
- Bất cập từ các quy định pháp luật hiện hành qua thực tiễn áp dụng:
- Căn cứ "thường xuyên không hoàn thành công việc" (Điểm a Khoản 1 Điều 38): Nghị định 44/2003/NĐ-CP hết hiệu lực, nhưng Nghị định 44/2013/NĐ-CP và Nghị định 05/2015/NĐ-CP đều không quy định rõ tiêu chí định lượng hoặc định tính cụ thể thế nào là "thường xuyên không hoàn thành công việc", gây lúng túng cho người sử dụng lao động khi áp dụng, dễ bị phán quyết là chấm dứt trái luật.
- Vướng mắc tại Điều 42 BLLĐ 2012: Quy định bắt buộc NSDLĐ phải nhận NLĐ trở lại làm việc ngay cả khi người sử dụng lao động đã đơn phương chấm dứt do NLĐ vi phạm kỷ luật nặng nhưng chỉ sơ suất về mặt thủ tục hành chính, điều này gây xung đột và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường làm việc của doanh nghiệp. Ngoài ra, Khoản 5 Điều 42 chưa quy định rõ số ngày vi phạm thời hạn báo trước có tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ hàng tuần hay không.
- Số liệu xét xử tranh chấp lao động tại Tòa án: Tác giả dẫn chứng dữ liệu từ Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2014 để chứng minh xu hướng gia tăng của các vụ án liên quan đến đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật:
| Năm |
Tổng số vụ án lao động phải giải quyết |
Số vụ án liên quan đến đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật |
Số vụ án liên quan đến xử lý kỷ luật sa thải NLĐ |
| 2011 |
474 |
245 |
71 |
| 2012 |
585 |
214 |
35 |
| 2013 |
700 |
338 |
193 |
Nguồn: Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2014
- Đánh giá chung: Dù Bộ luật Lao động 2012 có nhiều điểm tiến bộ trong việc điều hòa lợi ích các bên, hạn chế lớn nhất vẫn nằm ở sự thiếu đồng bộ của các văn bản dưới luật, sự thiếu hiểu biết pháp lý của người lao động khi ký kết hợp đồng và hạn chế trong công tác quản trị nhân sự tại các doanh nghiệp như SAMHO.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG SAMHO
Chương 3 xây dựng 04 phương hướng và các kiến nghị hoàn thiện cụ thể:
- Bốn phương hướng hoàn thiện pháp luật:
- Đảm bảo nguyên tắc cân bằng giữa việc bảo vệ người lao động và bảo vệ quyền tự do kinh doanh, tự do thuê mướn lao động chính đáng của người sử dụng lao động.
- Hướng đến sự bình ổn quan hệ lao động và giảm thiểu tổn thất kinh tế - tâm lý sau khi quan hệ lao động chấm dứt.
- Bảo đảm tính hợp lý, thống nhất của hệ thống pháp luật, phù hợp với đặc thù kinh tế Việt Nam nơi phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, cung lao động lớn hơn cầu.
- Nội luật hóa các tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO (đặc biệt là tinh thần Công ước 158) nhằm nâng cao năng lực hội nhập.
- Các nhóm kiến nghị và giải pháp:
- Về mặt lập pháp: Cần ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về tiêu chí đánh giá mức độ "thường xuyên không hoàn thành công việc"; làm rõ phương pháp tính số ngày vi phạm nghĩa vụ báo trước tại Điều 42; sửa đổi quy định bắt buộc nhận lại người lao động theo hướng linh hoạt thỏa thuận bồi thường thay thế khi NSDLĐ chỉ vi phạm về mặt thủ tục; bổ sung làm rõ Khoản 3 Điều 37.
- Về phía Công ty TNHH Xây dựng SAMHO: Cần kiện toàn quy trình ký kết và chấm dứt HĐLĐ; bổ sung các điều khoản ràng buộc bồi thường chi phí rõ ràng trong HĐLĐ đối với công nhân xây dựng; nâng cao công tác tuyên truyền pháp luật và xem xét thành lập bộ phận chuyên trách về pháp chế tại công ty.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể sau:
- Tổng hợp và chỉ ra xu hướng gia tăng của các tranh chấp lao động thông qua số liệu thực tế của ngành Tòa án: Tổng số vụ án lao động phải giải quyết tăng từ 474 vụ (năm 2011) lên 700 vụ (năm 2013), trong đó các vụ việc về đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật luôn chiếm tỷ trọng lớn (từ 214 đến 338 vụ/năm).
- Làm rõ các hạn chế pháp lý thực tiễn tại doanh nghiệp xây dựng: Chỉ ra nguyên nhân SAMHO chịu rủi ro pháp lý xuất phát từ việc thiếu phòng pháp chế, điều khoản hợp đồng chưa chặt chẽ và lỗ hổng từ các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động 2012 (như Nghị định 05/2015/NĐ-CP chưa giải thích rõ khái niệm "thường xuyên không hoàn thành công việc").
- Về mặt đóng góp: Khóa luận kết nối được giữa phân tích lý luận lập pháp (Bộ luật Lao động 2012, Công ước ILO 158) với khảo sát thực tiễn tại một doanh nghiệp xây dựng cụ thể (Công ty SAMHO), chỉ rõ các bất cập trong khâu áp dụng thủ tục báo trước và hậu quả pháp lý tại Điều 42, từ đó đưa ra các kiến nghị mang tính ứng dụng cho việc sửa đổi luật và quản trị nhân sự doanh nghiệp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu:
- Hạn chế về thời gian và dữ liệu: Đề tài được thực hiện trong thời gian ngắn (gần 01 tháng), do đó việc thu thập dữ liệu nội bộ tại Công ty TNHH Xây dựng SAMHO chủ yếu dựa trên các trường hợp vi phạm điển hình (như trường hợp công nhân xây dựng tự ý bỏ việc, lao động nữ nghỉ thai sản) mà chưa xây dựng được bảng số liệu thống kê chi tiết toàn bộ các trường hợp chấm dứt hợp đồng qua từng năm tại công ty.
- Giới hạn về bối cảnh văn bản pháp luật: Nghiên cứu được triển khai ở thời điểm Bộ luật Lao động 2012 và Nghị định 05/2015/NĐ-CP mới có hiệu lực, các hướng dẫn thi hành chưa đồng bộ nên một số phân tích vướng mắc mang tính chất phát hiện ban đầu.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả xác định cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cơ chế giải quyết tranh chấp lao động ngoài Tòa án (hòa giải, trọng tài lao động) đối với các tranh chấp đơn phương chấm dứt HĐLĐ; đánh giá tác động của việc nội luật hóa toàn diện các Công ước cơ bản của ILO đối với quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên ngành Luật, Luật Kinh tế, Quản trị Nhân lực: Tài liệu cung cấp hệ thống lý luận chi tiết về HĐLĐ, cấu trúc phân tích chuyên sâu các Điều 37, 38, 41, 42 của Bộ luật Lao động 2012 và phương pháp đối chiếu với Công ước quốc tế ILO 158.
- Cán bộ nhân sự, quản lý doanh nghiệp (đặc biệt trong ngành xây dựng, sản xuất): Cung cấp bài học thực tiễn về quản trị rủi ro hợp đồng, cách thức xử lý tình huống người lao động tự ý bỏ việc trên công trường, lưu ý về nghĩa vụ báo trước và quy trình chấm dứt HĐLĐ đúng luật nhằm hạn chế tranh chấp tại Tòa án.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận chỉ ra điểm bất cập nào trong quy định của Nghị định 05/2015/NĐ-CP đối với quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của người sử dụng lao động?
Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động 2012 nhưng không quy định cụ thể, chi tiết các tiêu chí để xác định thế nào là "thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động" (Điểm a Khoản 1 Điều 38), trong khi Nghị định cũ (Nghị định 44/2003/NĐ-CP) trước đó có hướng dẫn nhưng đã hết hiệu lực. Điều này khiến người sử dụng lao động gặp rủi ro bị phán quyết là chấm dứt HĐLĐ trái luật khi áp dụng căn cứ này.
2. Tình hình giải quyết tranh chấp về đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật tại Tòa án giai đoạn 2011–2013 biến động như thế nào theo số liệu trong văn bản?
Theo Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2014, số vụ án liên quan đến đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật luôn chiếm số lượng lớn trong tổng số án lao động: Năm 2011 là 245 vụ (trên tổng số 474 vụ), năm 2012 là 214 vụ (trên 585 vụ), và năm 2013 tăng lên 338 vụ (trên tổng số 700 vụ).
3. Tại Công ty TNHH Xây dựng SAMHO, trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật diễn ra phổ biến nhất dưới hình thức nào?
Hình thức phổ biến nhất là người lao động tự ý bỏ việc không báo trước khi đang thực hiện hợp đồng (như trường hợp công nhân A ký hợp đồng 01 năm, làm việc 02 tháng rồi tự ý vắng mặt và nghỉ hẳn mà không được sự đồng ý của quản đốc) và lao động nữ sau thời gian nghỉ thai sản không quay trở lại làm việc.
4. Khóa luận nêu bất cập gì về quy định buộc nhận lại người lao động tại Điều 42 Bộ luật Lao động 2012?
Quy định buộc người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc trong mọi trường hợp chấm dứt trái luật là chưa hợp lý, đặc biệt khi người lao động đã có lỗi nặng (như vi phạm kỷ luật nghiêm trọng) và người sử dụng lao động chỉ mắc sai sót về mặt thủ tục hành chính khi chấm dứt. Điều này gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý quản lý và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
5. Công ước quốc tế nào của ILO được tác giả sử dụng làm cơ sở so sánh cho chế định đơn phương chấm dứt HĐLĐ?
Tác giả sử dụng Công ước số 158 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về chấm dứt việc làm do người sử dụng lao động chủ động để đối chiếu các quy định về lý do chấm dứt, thời hạn báo trước và chế độ trợ cấp thôi việc.
Kết luận
Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chế định hợp đồng lao động và đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo pháp luật Việt Nam và chuẩn mực quốc tế ILO. Thông qua khảo sát thực tế tại Công ty TNHH Xây dựng SAMHO và số liệu ngành Tòa án giai đoạn 2011–2013, công trình đã làm rõ những khoảng trống pháp lý của Bộ luật Lao động 2012 cùng những bất cập nội bộ trong quản trị nhân sự ngành xây dựng. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp lập pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định về căn cứ chấm dứt, nghĩa vụ báo trước và nâng cao năng lực thực thi pháp lý cho doanh nghiệp.