Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LO ÂU Ở SINH VIÊN ĐẠI HỌC Y DƯỢC 1. Lý luận về lo âu 1. Định nghĩa lo âu Thuật ngữ “lo âu” đã được sử dụng từ lâu trong lịch sử phát triển của ngành tâm thần và y học. Lần đầu tiên thuật ngữ này được Kerkgard (Đan Mạch) sử dụng để chỉ trạng thái “lo lắng mà gần như không kiểm soát được” vào năm 1844.
Vào những năm cuối thế kỷ 19, nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm một cách đặc biệt đến tình trạng sức khỏe tâm thần của con người. Bàn về khái niệm lo âu, hiện nay có nhiều tác giả tìm hiểu và có những định nghĩa khác nhau: Theo bác sĩ Trần Đình Xiêm (1995): “Lo âu là một cảm giác bất an, lo sợ lan tỏa hết sức khó chịu nhưng thường mơ hồ kèm theo một triệu chứng của cơ thể” [17]. Theo bác sĩ Đinh Đăng Hòe (2000): “Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên (bình thường) của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội, mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại, hướng tới” [6]. Bác sĩ Nguyễn Viết Thiêm (2003) khi bàn về lo âu lại cho rằng: “Lo âu là một trạng thái bệnh lý.
Khi lo âu mang đặc tính dai dẳng, lan tỏa, tản mạn, không liên quan, không khu trứ vào một sự kiện hay hoàn cảnh đặc biệt nào ở xung quanh hoặc có liên quan tới sự kiện đã qua không còn tính chất thời sự nữa” [13]. Còn tác giả Nguyễn Văn Nuôi (2005) cho rằng: “Lo âu là một cảm xúc đặc trưng bởi cảm giác lo sợ lan tỏa, khó chịu mơ hồ kèm theo triệu chứng thần kinh tự chủ như đau, vã mồ hôi, hồi hộp, siết chặt ở ngực, khô miệng, 12 khó chịu ở thượng vị và bứt rứt không thể ngồi yên hay đứng yên một chỗ. Lo âu là một hiện tượng phản ứng của con người trước những tình huống khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại và vươn tới. Lo âu là một tín hiệu báo động, báo trước một nguy hiểm sắp xảy ra đến để con người sử dụng mọi biện pháp đương đầu với sự đe dọa” [8].
Lo âu được xem là bình thường khi phù hợp với tình huống và mất đi khi tình huống được giải quyết. Nhưng khi lo âu không có nguyên nhân rõ rệt hoặc quá mức so với mong đợi, các triệu chứng và gây nhiều khó chịu dai dẳng ảnh hưởng đến các hoạt động hàng ngày thì nó đã trở thành một tình trạng bệnh tật. Đó là những định nghĩa về lo âu dưới gốc độ tâm thần học. Trong lĩnh vực tâm lý học, có những định nghĩa của các tác giả như: Vũ Dũng, Đỗ Thị An, v.
Tác giả Đỗ Thị An (2013) đã định nghĩa: “Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại và vươn tới. Lo âu là một tín hiệu báo động, báo trước một nguy hiểm sắp xảy đến, để con người sử dụng mọi biện pháp đương đầu với sự đe dọa” [1]. Trong Từ điển Tâm lý học xuất bản năm 2012, tác giả Vũ Dũng đã đưa ra định nghĩa như sau về lo âu: “Là trải nghiệm cảm xúc tiêu cực được quy định bởi sự chờ đợi điều gì đó nguy hiểm, có tính chất khuếch tán, không liên quan đến các sự kiện cụ thể. Trạng thái cảm xúc xuất hiện trong các tình huống nguy hiểm không xác định và được thể hiện trong việc chờ đợi sự tiến triển không thuận lợi của sự kiện” [4].
Tác giả cũng nhận định rằng, khác với hoảng sợ, được coi là một phản ứng đối với một đe dọa cụ thể nào đó, lo âu thể hiện sự sợ hãi chung chung, mang tính lan truyền và không có đối tượng và thường có liên hệ với việc chờ đợi điều không may trong tương tác xã hội 13 và thường được tạo bởi sự không ý thức được nguồn gốc của nỗi nguy hiểm. Khi có lo âu ở cấp độ sinh lý, nhịp thở tăng, tim đập nhanh hơn, huyết áp cao hơn, hưng phấn tăng, ngưỡng trị giác giảm. Về mặt chức năng, lo âu không chỉ cảnh báo về sự nguy hiểm có thể xảy ra, mà còn kích thích tìm kiếm và cụ thể hoá mối nguy hiểm đó, tích cực tìm hiểu thực tế với mục đích xác định đối tượng đe dọa. Lo âu có thể biểu hiện như cảm giác về sự bất lực, thiếu tự tin vào bản thân, bất lực trước các yếu tố bên ngoài, phóng đại sức mạnh và tính đe dọa của chúng.
Biểu hiện về hành vi của lo âu nằm ở chỗ hoá giải các hoạt động làm ảnh hưởng đến xu hướng và hiệu quả của hoạt động. Lo âu như một cơ chế phát triển loạn thần kinh chức năng. Lo âu loạn tâm hình thành trên cơ sở các mâu thuẫn bên trong trong quá trình phát triển và cấu thành tâm lý. Ví dụ: từ mức độ gắn bó (như phụ thuộc giữa con và mẹ) cao, thiếu cơ sở đạo đức cho động cơ có thể dẫn tới tin tưởng một cách bất hợp lý về mối đe doạ từ những người khác, của chính cơ thể mình, kết quả từ chính hành động của mình [4].
Trong nghiên cứu thực nghiệm người ta phân ra: 1) Lo âu tình huống - biểu hiện đặc điểm trạng thái hiện tại của cá nhân. 2) Lo âu như một nét nhân cách - tính lo âu thiên hướng trải nghiệm lo âu cao từ những nguy hiểm thực tế hoặc tưởng tượng. Có thể giảm lo âu với sự trợ giúp của các cơ chế bảo vệ như loại trừ, thay thế, hợp lý hoá, phóng chiếu. Tác giả Nguyễn Viết Thêm đã định nghĩa : “Lo là một phản ứng cảm xúc tự nhiên của con người trước những mối đe dọa, khó khăn, thử thách mà nhận thức được của một người với tâm sinh lý bình thường, đó là cảm giác sợ hãi, mơ hồ, khó chịu lan toả cùng các rối loạn cơ thể ở một hay nhiều bộ phận nào đó.
Lo âu thực chất là tín hiệu báo động, báo trước cho cá thể biết rằng sẽ có sự đe doạ từ bên trong hoặc bên ngoài cơ thể (những khó khăn, 14 thử thách, đe doạ của tự nhiên hoặc xã hội), từ đó giúp con người tìm ra được các giải pháp phù hợp để tồn tại và phát triển” [12]. Trong công trình Bách khoa toàn thư Tâm lý học Corsisi xuất bản năm 2010 bởi Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ đã định nghĩa lo âu như sau: “Lo âu là một trạng thái cảm xúc đối với những mối đe dọa trong tương lai được đặc trưng bởi cảm giác e ngại, lo lắng, thiếu kiểm soát đối với các phản ứng xúc cảm của bản thân và cũng thường đi kèm với những cảm nhận như hổ thẹn, tội lỗi, hưng phấn, tức giận, hay buồn chán. Bên cạnh đó, lo âu cũng thường xuất hiện cùng với sợ hãi và được biểu hiện ra với các triệu chứng cơ thể như căng cơ, khô miệng, tim đập nhanh, run rẩy, chóng mặt, và khó thở” [52]. Theo Hiệp Hội Tâm Lý Hoa Kỳ: “Lo âu được đặc trưng bởi cảm giác căng thẳng, suy nghĩ lo lắng và thay đổi về thể chất.
Các rối loạn lo âu như rối loạn hoảng loạn và chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế gây ra những suy nghĩ và lo lắng liên tục hay những triệu chứng về thể chất như đổ mồ hôi, run rẩy, chóng mặt, nhịp tim nhanh” [18]. Đối với một người có rối loạn lo âu, lo lắng không biến mất và có thể trở nên tồi tệ hơn theo thời gian. Cảm giác này có thể ảnh hưởng đến các hoạt động hàng ngày như hiệu suất công việc, công việc trường học và các mối quan hệ. Lo âu kéo dài có thể phát triển thành bệnh lý là “Rối loạn lo âu lan tỏa” với các triệu chứng như: bồn chồn, dễ bị mệt mỏi, khó tập trung, cảm giác đau, hay cáu gắt, căng cơ, khó kiểm soát được sự lo lắng, các vấn đề về giấc ngủ [39].
Như vậy, trên cơ sở tổng hợp và kế thừa các khái niệm trước đó, chúng tôi đưa ra một khái niệm về lo âu như sau: “Lo âu là một rối loạn cảm xúc được đặc trưng bởi sự lo lắng quá mức, kéo dài về một tình huống có tính chất vô lý, lặp đi lặp lại và kéo dài ảnh hưởng đến sự thích nghi trong cuộc sống. Lo âu cũng là sự lặp đi lặp lại những suy nghĩ vô lý, những hành vi 15 mang tính chất nghi thức, đồng thời đi kèm với những trạng thái về thể chất: khó thở, mệt mỏi, không ngủ được, ra mồ hôi tay, tim đập nhanh”. Các biểu hiện của lo âu Khi ta lo lắng, cả cơ thể và tâm thần đều có các biểu hiện của stress; đó là căng thẳng, dễ nổi cáu, chóng mặt, cơn nóng bừng, cơn run, cơn hồi hộp trống ngực (tim đập thành hồi nhanh và mạnh), đầy bụng khó tiêu, xỉu, thở nhanh, ngủ kém. Tình trạng này có thể dễ dàng bị hiểu sai thành bệnh nặng, như bệnh tim hoặc ung thư, do vậy càng làm tăng thêm lo âu.
- Biểu hiện về mặt hành vi: Đó là cảm giác căng thẳng, bồn chồn, bất an. Người mắc chứng lo âu thường cảm thấy bực bội, khó chịu, đứng ngồi không yên, luôn vận động chân tay (các triệu chứng này không phải do thuốc gây ra). - Biểu hiện về cảm xúc: Cảm giác rất khó tập trung chú ý để làm việc, cảm giác trống rỗng trong đầu, đặc biệt là không thể nghỉ ngơi. Có thể có cảm giác xung quanh mình có điều gì đó thay đổi, cảm giác có thay đổi trong cơ thể mình.
Thậm chí có người còn sợ mình sẽ mất tự chủ, không kiềm chế được bản thân. - Biểu hiện về mặt thực thể: Hồi hộp, đánh trống ngực, cảm thấy tim đập nhanh hơn, đau ngực; có người cảm thấy khó thở như bị ai chẹt cổ; có người lại có cảm giác hụt hơi, khó thở, ngột ngạt. Thường, ai cũng run rẩy, ra mồ hôi chân tay; có người toát mồ hôi như vừa tắm (kể cả trời lạnh). Người hay lo lắng dễ rối loạn giấc ngủ: khó ngủ, trằn trọc, suy nghĩ miên man, khó duy trì giấc ngủ.
- Một số biểu hiện khác có thể gặp: tiểu tiện nhiều lần, căng thẳng cơ bắp, hoa mắt, chóng mặt, nhìn mờ…. Những biểu hiện sinh lý của lo âu bao gồm những triệu chứng hệ thần kinh giao cảm như là run, đổ mồ hôi, giãn đồng tử và trải nghiệm chủ quan 16 của nhịp tim nhanh, mà nhiều người gọi nó là “hồi hộp”.