Chương 1. TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến liên kết du lịch, vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với liên kết du lịch 1. Những nghiên cứu về du lịch, liên kết du lịch Williams & Lawson (2001) cho rằng DL là một hoạt động tương tác giữa chủ và khách, sự thiếu vắng của hoạt động này sẽ dẫn đến ngăn cản việc phát huy hết tiềm năng của DL.
Sheenan & cộng sự (2016) cho rằng, ngành DL sẽ tạo ra những giá trị và cung cấp cho khách DL thông qua một mạng lưới phức tạp gồm nhiều yếu tố tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau. Andereck & cộng sự (2005) cho rằng, DL được coi là một ngành mang lại nhiều lợi ích kinh tế. Sự phát triển của DL sẽ mang lại cơ hội việc làm và đầu tư cho địa phương và giúp cải thiện kinh tế địa phương. Thực tế, các nghiên cứu của Eraqi (2007); Hanafiah & cộng sự (2010); Lee & cộng sự (2007) đều đưa ra cùng ý tưởng rằng: Nhiều cộng đồng ở các nước đang phát triển coi DL là phương tiện kiếm sống của cư dân địa phương.
Sự phát triển này có thể giúp làm giảm đáng kể bất bình đẳng giữa các khu vực (Li & cộng sự, 2016) cũng như có khả năng ổn định xung đột khu vực giữa các quốc gia (Andereck & cộng sự, 2005). Theo Rodriguez & Fernandez (2016), DL là một lĩnh vực phải được tiếp cận từ góc độ hệ thống, tập trung vào cấu trúc mạng lưới của các mối quan hệ giữa các bên liên quan”. Khi nghiên cứu về vai trò của mạng lưới trong hoạt động DL, Dredge (2006) đã điều tra các mối quan hệ giữa chính quyền địa phương và ngành để từ đó phân tích về vai trò của mạng lưới trong việc thúc đẩy hoặc ngăn cản việc xây dựng quan hệ đối tác giữa khu vực công và tư nhân trong các hoạt động DL của địa phương. Qua đó, tác giả đã chỉ ra rằng, trong mạng lưới DL của địa phương, khu vực công giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động LKDL.
Trong khi thực hiện LKDL, các bên liên quan cần xây dựng các nội dung hợp tác, các nội dung này có tồn tại như: “Liên kết xây dựng sản phẩm DL, chương trình DL của vùng; Liên kết đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; Liên kết xây dựng đồng bộ hạ tầng DL, đặc biệt là hạ tầng giao thông; Liên kết huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách đầu tư phát triển DL chung của vùng, rà soát quy hoạch phát triển DL phù hợp với thế mạnh của từng địa phương; Liên kết tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến xây dựng thương hiệu DL; và liên kết hợp tác nâng cao năng lực cạnh tranh DL (Trần Xuân Quang, 2021). Việc hình thành mô hình LKDL cũng rất quan trọng (Vũ Trọng Bình, 2017; Trần Đình Thiên, 2016), các tác giả cũng đã phác thảo nội dung liên kết như: phân phối lại lực lượng sản xuất; điều chỉnh quy hoạch phát triển DL; xây dựng đồng bộ vận tải liên tỉnh cơ sở hạ tầng; thiết lập không gian DL thống nhất; đào tạo chung và phát triển nguồn nhân lực; đến huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ 9 chế chính sách chung cho toàn khu vực; phối hợp xúc tiến DL. Nguyễn Đình Hiền & Hồ Thị Minh Phương (2017), đã khẳng định vai trò của LKDL như một động lực quan trọng trong phát triển DL trong phát triển vùng Kinh tế trọng điểm Miền Trung. Các nghiên cứu của Bramwell & Lane (1993; Choi & Murray (2010); Cole (2006); Macleod & Todnem (2007); Matarrita-Cascante & cộng sự (2010); Timur & Getz, (2008,2009); Vernon & cộng sự (2005); và nghiên cứu của Wesley & Pforr, (2010) đều có đồng quan điểm và cho rằng sự tham gia và hợp tác giữa các bên liên quan đến điểm đến là thực sự cần thiết trong phát triển DL bền vững.
Sự phối kết hợp giữa các tổ chức đơn vị trong thực hiện LKDL cũng là cần thiết, Nguyễn Văn Khánh & Nguyễn Thị Quỳnh Anh (2017) cho rằng, để có thể triển khai chính sách phát triển DL dựa trên liên kết vùng, tiểu vùng cần thúc đẩy liên kết, hợp tác giữa các DN, đồng thời cũng đẩy mạnh hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng nhằm kết nối phát triển DL của vùng. Hoàng Văn Hoa & cộng sự (2018) cho rằng, LKDL của vùng nghiên cứu chưa được hình thành là do chưa có sự phối hợp, gắn kết chặt chẽ với các hiệp hội DL và các DNDL. Do vậy, trong nghiên cứu của Nguyễn Đình Hiền & Hồ Thị Minh Phương (2017), và Trần Thị Vân Hoa & cộng sự (2018), cho rằng điều cần thiết phải thành lập Ban điều phối liên kết vùng, thành lập một Ủy ban LKDL Vùng, cần phải xác định chức năng, nhiệm vụ và quy định các hoạt động của Ban điều phối, đồng thời thiết lập cơ chế tài chính, từ đó giúp nâng cao hiệu quả hoạt động LKDL vùng. Trong quá trình triển khai LKDL, Phạm Thị Hồng Cúc & cộng sự (2018) cho rằng các địa phuơng đã thống nhất xây dựng hình ảnh các sản phẩm DL đặc thù; thực hiện ký kết các văn bản hợp tác liên kết địa phuơng trong cụm và ngoài cụm, liên kết trong hoạt động xúc tiến quảng bá sản phẩm DL.
Tuy nhiên, các tác giả cũng cho rằng, việc khai thác các tiềm năng và lợi thế DL của từng địa phuơng là khá giống nhau, dẫn đến các sản phẩm DL có nhiều trùng lắp và đơn điệu. Tác giả cũng khẳng định trên góc độ quản lý nhà nuớc, liên kết địa phuơng mới chỉ dừng lại trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm mà chua có các chuơng trình hành động cụ thể. Khi nghiên cứu về vai trò của một số các bên liên quan trong hoạt động LKDL. Pongponrat (2011) cho rằng phát triển DL cần phải dựa vào thiện chí và sự hợp tác tích cực của người dân địa phương.
Do vậy, trong các hoạt động LKDL, chính quyền địa phương cần khuyến khích người dân địa phương tham gia vào quy hoạch và quản lý DL, để từ đó có thể tăng cường sự phát triển bền vững DL của địa phương. Lãnh đạo địa phương có thể hỗ trợ sự hợp tác giữa các bên liên quan đến DL trong việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch nhằm dẫn dắt cộng đồng di theo mục tiêu phát triển DL bền vững. Và cộng đồng sẽ hỗ trợ nhiều hơn cho phát triển DL nếu họ có cơ hội tham gia vào quá trình lập kế hoạch và phát triển DL (Mak & cộng sự, 2017). Trong tổ chức thực hiện LKDL, xây dựng bộ máy nhằm tổ chức hoạt động LKDL vùng được các nghiên cứu thừa nhận.
Theo Hoàng Văn Hoa & Trần Hữu Sơn (2016) khi phân tích thực trạng 10 LKDL vùng Tây Bắc Việt Nam, các tác giả khẳng định, muốn LKDL vùng được triển khai có hiệu quả, thì phải thiết lập cơ chế liên kết hiệu quả, nên thành lập Ban chỉ đạo LKDL vùng. Chủ đề LKDL được đặt ra và chú trọng trong bối cảnh cạnh tranh và những thay đổi trong ngành DL đang có những bước phát triển mới như sự phát triển của công nghệ thông tin, internet, nhu cầu DL của du khách mới. Theo Mills & Law (2004), internet đang làm thay đổi cấu trúc của ngành DL, bằng cách thay đổi các rào cản gia nhập, thay đổi các kênh phân phối, tạo điều kiện minh bạch về giá cả và cạnh tranh, từ đó đem lại nhiều kết quả tốt và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Nhiều học giả cho rằng cơ sở lý thuyết về LKDL xuất phát từ chiến lược điểm đến, hoặc từ sự phát triển tất yếu khách quan của DL hoặc xuất phát từ quan niệm chuyên môn hóa và đổi mới thường xuyên Poon (1994).
Trong lĩnh vực liên kết cụm, Anderson & cộng sự (1994) cho rằng việc hình thành các mối quan hệ hợp tác chặt chẽ hoặc liên minh giữa các chủ thể là rất quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy LKDL. Về các nguyên tắc trong thực hiện LKDL, Vũ Trọng Bình (2017), Trần Đình Thiên (2016), và Phạm Trung Lương (2014) đã đề xuất các nguyên tắc đó là: bình đẳng, cùng có lợi; liên kết dựa trên tinh thần tự nguyện; LKDL phải được thiết kế, xây dựng thành các dự án và các chương trình. Về nội dung này, Hà Văn Siêu (2017), cũng đề xuất 6 nguyên tắc trong LKDL: chấp hành, tự nguyện, đồng thuận, bình đẳng, tương hỗ lợi ích, chia sẻ. Trong liên kết phải đảm bảo thực hiện theo mục tiêu đã đề ra, Hà Văn Siêu (2017) cho rằng mục tiêu LKDL đang nâng cao hiệu quả tăng trưởng kinh tế, đảm bảo sự hài lòng của khách DL, xây dựng cạnh tranh thương hiệu DL, thiết lập điểm chung tài nguyên của toàn khu vực, tạo thành khu vực DL quốc gia quan trọng và tuyến DL.
Và nhấn mạnh vào nội dung của sản phẩm LKDL phát triển. Vũ Trọng Bình (2017), Trần Đình Thiên (2016) đã phác thảo nội dung liên kết: phân phối lại lực lượng sản xuất; điều chỉnh quy hoạch phát triển DL; xây dựng đồng bộ vận tải liên tỉnh cơ sở hạ tầng; thiết lập không gian DL thống nhất; đào tạo chung và phát triển nguồn nhân lực; đến huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách chung cho toàn khu vực; phối hợp xúc tiến DL. Nguyễn Đình Hiền & Hồ Thị Minh Phương (2017), đã khẳng định vai trò của LKDL như một động lực quan trọng trong phát triển DL trong phát triển vùng Kinh tế trọng điểm Miền Trung. Trong nghiên cứu của mình, (Baggio & cộng sự, 2013) coi điểm đến là một loại hình DL đặc thù, và có thể đạt được mức độ liên kết cao với nhiều sản phẩm và dịch vụ khác biệt dựa trên sự đổi mới thường xuyên.
Và tác giả cũng coi LKDL như là một chiến lược nhằm tăng khả năng cạnh tranh của các điểm đến DL một cách bền vững. Trần Xuân Quang (2021) đã đề xuất mô hình quản lý điểm đến của vùng đó là mô hình gồm cấp tỉnh và cấp vùng, cấp tỉnh sẽ quản lý các hoạt động liên quan đến thúc đẩy tham gia LKDL, còn cấp vùng sẽ chịu trách nhiệm hỗ trợ và giám sát hoạt động LKDL 11 của vùng. Sự phối kết hợp giữa các tổ chức đơn vị trong thực hiện LKDL cũng là cần thiết, Nguyễn Văn Khánh & Nguyễn Thị Quỳnh Anh (2017) cho rằng, để có thể triển khai chính sách phát triển DL dựa trên liên kết vùng, tiểu vùng cần thúc đẩy liên kết, hợp tác giữa các DN, đồng thời cũng đẩy mạnh hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng nhằm kết nối phát triển DL của vùng.