lời mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về Doanh nghiệp bảo hiểm và sự liên kết ngân hàng - bảo hiểm (Bancassurance). Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động liên kết giữa Doanh nghiệp bảo hiểm với các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. 2 Chƣơng 3: Kiến nghị và giải pháp nhằm phát triển mô hình Bancassurance tại Việt Nam. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc tìm tòi và nghiên cứu tài liệu, song do trình độ còn hạn chế nên trong quá trình hoàn thành bài viết không thể tránh khỏi có những thiếu sót.
Em rất mong nhận đƣợc sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến xây dựng của các thầy cô giáo và các bạn để bài viết hoàn thiện hơn. Hà Nội, ngày …/…/2007 Học viên cao học Lê Ngọc Diệp 3 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM VÀ SỰ LIÊN KẾT NGÂN HÀNG - BẢO HIỂM (BANCASSURANCE) 1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp bảo hiểm 1.
Khái niệm doanh nghiệp bảo hiểm Theo đại từ điển kinh tế thị trƣờng “Xí nghiệp (tức doanh nghiệp) là đơn vị kinh tế cơ bản, tham gia mọi hoạt động kinh tế nhƣ sản xuất, lƣu thông để thoả mãn các nhu cầu của xã hội; tiến hành kinh doanh tự chủ, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập và có tƣ cách pháp nhân. Xí nghiệp (tức doanh nghiệp) là tế bào của nền kinh tế quốc dân. Tình hình đời sống kinh tế trong xã hội (tức tình hình sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng) khi đã phát triển tới trình độ cao thì đƣợc quyết định bởi tình hình sản xuất kinh doanh của xí nghiệp”. Nhƣ vậy, doanh nghiệp là những tổ chức kinh tế độc lập cơ bản của nền kinh tế, có tƣ cách pháp nhân, hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trƣờng vì mục đích tối đa hoá lợi nhuận và sự phát triển của xã hội.
Theo đó “DNBH là doanh nghiệp đƣợc thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của luật KDBH và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến kinh doanh bảo hiểm”. DNBH là một loại doanh nghiệp dịch vụ; hoạt động của nó cũng nhằm mục đích sinh lời. Điểm khác nhau cơ bản giữa DNBH với các doanh nghiệp khác là ở chỗ: DNBH là doanh nghiệp chấp nhận rủi ro của ngƣời đƣợc bảo hiểm; nó có trách nhiệm trả tiền bảo hiểm cho ngƣời thụ hƣởng hoặc bồi thƣờng cho ngƣời đƣợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm nếu ngƣời mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm cho doanh nghiệp. Nhƣ vậy, muốn phân biệt phải dựa vảo đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm.
Phân loại doanh nghiệp bảo hiểm Nền kinh tế thị trƣờng là nền kinh tế đa dạng, phong phú các hoạt động kinh tế - xã hội. Trong nền kinh đó có nhiều thành phần kinh tế tham gia. Vì vậy, các tổ chức kinh tế cũng phù hợp với thành phần kinh tế đó. Cụ thể trong thị trƣờng bảo hiểm thƣờng bao gồm các hình thức tổ chức nhƣ sau: - DNBH Nhà nƣớc; - Công ty cổ phần bảo hiểm; - Công ty bảo hiểm tƣ nhân; - Tổ chức bảo hiểm tƣơng hỗ; - DNBH liên doanh; - DNBH 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài; - Tổ chức Lloyd’s.
Đây là hình thức tổ chức của các công ty độc lập. Ngoài ra, còn có doanh nghiệp (hay công ty) trực thuộc các tổng công ty (hay tập đoàn) kinh tế lớn. Chẳng hạn, công ty bảo hiểm quốc tế AIA thuộc tập đoàn bảo hiểm và dịch vụ tài chính hàng đầu thế giới AIG; Công ty bảo hiểm Samsung trong hãng Samsung, công ty bảo hiểm dầu khí trong Tổng công ty dầu khí… * Doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước DNBH Nhà nƣớc là doanh nghiệp do Nhà nƣớc thành lập, đầu tƣ vốn và quản lý với tƣ cách là ngƣời chủ sở hữu. DNBH Nhà nƣớc là một pháp nhân kinh tế hoạt động theo pháp luật và bình đẳng trƣớc pháp luật.
* Công ty cổ phần bảo hiểm Công ty cổ phần bảo hiểm là loại doanh nghiệp do các cổ đông tham gia đóng góp vốn thông qua hình thức phát hành cổ phiếu, trái phiếu và có trách nhiệm hữu hạn. Đây là doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tƣơng ứng với số vốn góp. * Công ty bảo hiểm tư nhân Công ty bảo hiểm tƣ nhân là công ty bảo hiểm do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của công ty trƣớc pháp luật. Công ty 5 đƣợc thành lập theo luật công ty.
* Tổ chức bảo hiểm tương hỗ Tổ chức bảo hiểm tƣơng hỗ là tổ chức có tƣ cách pháp nhân đƣợc thành lập để KDBH nhằm tƣơng trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên. Thành viên tổ chức bảo hiểm tƣơng hỗ vừa là chủ sở hữu vừa là bên mua bảo hiểm. Về mặt pháp lý, họ vừa là hội viên, vừa là những ngƣời đƣợc bảo hiểm. Tổ chức bảo hiểm tƣơng hỗ chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của tổ chức trong phạm vi tài sản của tổ chức.
* Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh đƣợc thành lập trên cơ sở góp vốn của các doanh nghiệp (trong nƣớc và nƣớc ngoài). Chẳng hạn, của bên Việt Nam và bên nƣớc ngoài. Vị trí các bên trong doanh nghiệp phụ thuộc mức vốn góp. Các thành viên trong doanh nghiệp hƣởng lợi nhuận cũng nhƣ chịu thua lỗ tƣơng ứng mức vốn góp.
* Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài Đây là DNBH do nƣớc ngoài đầu tƣ vốn, hoạt động tại nƣớc sở tại, theo pháp luật của nƣớc sở tại; đồng thời chịu sự chỉ đạo của công ty mẹ ở chính quốc. Ở Việt Nam, DNBH 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ; chị sự chi phối của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Đầu tƣ, Luật Doanh nghiệp và các luật khác có liên quan. * Tổ chức Lloyd’s Lúc đầu Lloyd’s là một tổ chức bảo hiểm tƣơng hỗ của các nhà bảo hiểm hàng hải London, đƣợc thành lập năm 1720. Theo thời gian, Lloyd’s càng phát triển và trở nên nổi tiếng nhờ bảo hiểm những rủi ro đặc biệt.
Ở Mỹ, một số cá nhân tự nguyện tiến hành bảo hiểm rủi ro dựa trên kế hoạch phỏng theo “Lloyd’s of London” và hình thức tổ chức cũng giống “Lloyd’s of London” nên gọi là “American Lloyd’s”. Tổ chức này nhỏ, không chứa đựng những tính đặc thù nhƣ “Lloyd’s of London”. Ở Việt Nam có 5 loại hình DNBH và đƣợc phân theo tính chất sở hữu: 6 - DNBH Nhà nƣớc; - Công ty cổ phần bảo hiểm; - Tổ chức bảo hiểm tƣơng hỗ; - DNBH liên doanh; - DNBH 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Trong thị trƣờng bảo hiểm còn có các doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm cũng bao gồm nhiều loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế nhƣ: - Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm Nhà nƣớc; - Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm; - Công ty TNHH môi giới bảo hiểm; - Công ty hợp doanh môi giới bảo hiểm; - Doanh nghiệp tƣ nhân môi giới bảo hiểm; - Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm liên doanh; - Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Các tổ chức nhƣ đại lý bảo hiểm, văn phòng đại diện của DNBH là các tổ chức phụ thuộc, không đủ tƣ cách để gọi là doanh nghiệp. Mô hình tổ chức doanh nghiệp bảo hiểm 1. Vai trò của mô hình tổ chức Doanh nghiệp là một tổ chức, có tƣ cách pháp nhân; hoạt động trong mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong doanh nghiệp nhằm cùng thực hiện một mục đích chung dƣới sự lãnh đạo và quản lý thống nhất của các nhà quản lý.
Mô hình tổ chức một doanh nghiệp chặt chẽ sẽ tạo sự ổn định một cách tƣơng đối để có thể kết hợp các hoạt động, các bộ phận trong doanh nghiệp làm việc có hiệu quả và đối phó đƣợc với biến động của môi trƣờng. Mô hình tổ chức là hình thức tồn tại của tổ chức, biểu thị việc sắp xếp các bộ phận đƣợc chuyên môn hoá với trách nhiệm và quyền hạn nhất định, có mối liên hệ mật thiết với nhau … nhằm thực hiện chức năng quản lý … 7 Mô hình tổ chức của doanh nghiệp phải đáp ứng yêu cầu của chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp đó, cũng có nghĩa việc hình thành mô hình tổ chức phải đảm bảo tính hiệu quả và tính linh hoạt. Môi trƣờng hoạt động của doanh nghiệp luôn thay đổi. Vì vậy, khi thiết kế mô hình tổ chức doanh nghiệp phải xét đến các nhân tố ảnh hƣởng.
Những nhân tố ảnh hƣởng đến mô hình tổ chức của DNBH là chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp; là kỹ năng và năng lực hoạt động của doanh nghiệp; là môi trƣờng kinh tế - xã hội, môi trƣờng chính trị - xã hội, môi trƣờng pháp lý… mà doanh nghiệp đang hoạt động. Vì vậy, mô hình tổ chức của DNBH không cứng nhắc, mà có thể thay đổi thích hợp với các điều kiện ảnh hƣởng. Các mô hình tổ chức doanh nghiệp bảo hiểm DNBH có nhiều loại, mỗi loại có đặc điểm riêng. Do đó, không nhất thiết có mô hình tổ chức giống nhau.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp đều có trụ sở chính đặt tại thị xã hay thành phố - là địa bàn chính của doanh nghiệp hoạt động và các văn phòng chi nhánh ở các địa phƣơng khác trong nƣớc hoặc nƣớc ngoài. Trụ sở chính hay văn phòng chính của doanh nghiệp là nơi xây dựng chiến lƣợc kinh doanh và điều hành các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng nhƣ các hoạt động đối ngoại của doanh nghiệp. Văn phòng chi nhánh (hoặc văn phòng đại diện) có trách nhiệm thực hiện các hoạt động kinh doanh theo phân cấp quản lý doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp có quy mô khác nhau.
Có doanh nghiệp là tổng công ty, có doanh nghiệp là công ty… cho nên mô hình tổ chức cũng có những nét khác nhau. Nếu doanh nghiệp là Tổng công ty, mô hình tổ chức của doanh nghiệp tổng quát là: 8 Mô hình 1.1: Tổ chức Tổng công ty bảo hiểm Ban lãnh đạo Tổng công ty Các phòng chức năng VPĐD ở nƣớc ngoài Các công ty trực thuộc TCT Các phòng chức năng của công ty VPĐD (hoặc VP chi nhánh) Nguồn: Giáo trình Quản trị Kinh doanh Bảo hiểm 2004 Nếu doanh nghiệp là công ty, mô hình tổ chức sẽ có những nét khác biệt. Chẳng hạn, mô hình tổ chức một công ty bảo hiểm phi nhận thọ thƣờng là: Mô hình 1.