Phần mở đầu và Kết luận, luận văn có kết cấu gồm 4 chƣơng nhƣ sau : Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề lý luận cơ bản về mối “liên kết bốn nhà” trong phát triển kinh tế nông nghiệp Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Phân tích và đánh giá thực trạng mối “liên kết bốn nhà” trong phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Bình Giang tỉnh Hải Dƣơng. Chƣơng 4: Đề xuất mô hình và các giải pháp nhằmtăng cƣờng mối “liên kết bốn nhà” trong phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Bình Giang tỉnh Hải Dƣơng 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỐI “LIÊN KẾT BỐN NHÀ” TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu cơ bản để nông sản có sức cạnh tranh không chỉ thị trƣờng quốc tế mà ngay ở thị trƣờng trong nƣớc là sản phẩm phải đảm bảo đƣợc các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, số lƣợng lớn, giá cả hợp lý và có chiến lƣợc thị trƣờng tốt.
Để đạt đƣợc điều này, ngƣời nông dân cần phải liên kết với không chỉ doanh nghiệp mà cả nhà khoa học với sự hỗ trợ của nhà nƣớc. Chính vì vậy, việc liên kết bốn nhà là xu hƣớng tất yếu của ngành nông nghiệp Việt Nam và đã đƣợc Nhà nƣớc đặt ra từ Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 về chính sách khuyến khích tiêu thu nông sản thông qua hợp đồng. Tuy nhiên, nghiên cứu về vấn đề liên kết này mặc dù đã có nhƣng không nhiều, có thể liệt kê một số công trình sau: Nghiên cứu của Nguyễn Phú Son (2013) về Mô hình liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thu lúa gạo tại xã Định Hòa, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang đã nghiên cứu các bƣớc xây dựng mô hình liên kết và đánh giá thực trạng liên kết “bốn nhà” đƣợc xây dựng tại xã Định Hòa, huyện Gò Quao. Nghiên cứu đã đề xuất một qui trình gồm 6 bƣớc và dựa trên sở lý thuyết liên kết dọc trong chuỗi giá trị giữa Hợp tá xã HòaTiến và Công ty Gentraco, với sự hỗ trợ, thúc đẩy của Ủy ban nhân dân xã Định Hòa và nhóm tƣ vấn củatrƣờng Đại học Cần Thơ.
Kết quả của mô hình đã mang lại những lợi íchcho cả “bốn nhà”. Đối với nông dân, lợi ích lớn nhất mang lạicho họ là việc làm thay đổi hành vi sản xuất theo hƣớng “Bán cái thị trƣờng cần, chứ không phải bán cái mình có”. Đối với Công ty, việc tham gia mô hình liên kết này đã góp phần làm gia tăng thƣơng hiệu, cũng nhƣ tạo tiền đề cho việc xây dựng vùng nguyên liệu. Đối với địa phƣơng, thông qua việc tham gia liên kết đã giúp cho cán bộ địa phƣơng nâng cao đƣợc năng lực quản lý, cũng nhƣ góp phần vào nhiệm vụ xây dựng Nông thôn mới.
Nghiên cứu đi đến kết luận thông qua 5 liên kết này đã giúp cho những nhà khoa học bổ sung thêm cơ sở lý thuyết cho chuỗi giá trị cũng nhƣ làm gia tăng sự trải nghiệm về vấn đề liên kết “bốn nhà”. Nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Duy Cần, Võ Hồng Tú và Nguyễn Văn Sánh (2011) về Liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thu lúa gạo: Trường hợp nghiên cứu ở tỉnh An Giang cũng đã nghiên cứu đánh giá mối liên kết “bốn nhà”. Nghiên cứu lựa chọn An Giang là một trong những tỉnh đứng đầu của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)trong sản xuất lúa gạo hàng hóa. Tuy nhiên, trong quá trình này ngƣời nông dân vẫn còngặp không ít khó khăn nhƣ cạnh tranh gay gắt, lúa gạo đôi khi không tiêu thụ đƣợc,.
Môhình liên kết “bốn nhà” đƣợc xem là một cứu cánh giúp tháo gỡ đầu ra của sản xuấtnhƣng nó cũng gặp không ít khó khăn. Nghiên cứu có mục tiêu phân tích,đánh giá các trở ngại, cơ hội của nông dân trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo; phântích, đánh giá các mối quan hệ của mô hình “bốn nhà” và đề xuất đƣợc giải pháp đểlàm tăng cƣờng mối quan hệ “bốn nhà” cho sản xuất và tiêu thụ lúa gạo. Kết quả nghiêncứu cho thấy những trở ngại chính trong quá trình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo của nôngdân là thiếu nguồn cung ứng giống tốt, nguồn vốn đầu tƣ hạn chế, giá cả vật tƣ nôngnghiệp biến động và tình hình đƣợc mùa mất giá. Về mối quan hệ “bốn nhà” thì nhìn chungcòn lỏng lẻo, mức độ tham gia liên kết của các tác nhân có vai trò quyết định còn hạnchế.
Tuy nhiên, trong quá trình liên kết này lại nhận đƣợc sự hỗ trợ nhiệt tình từ phíachính quyền địa phƣơng - một tác nhân có tầm quan trọng nhất quyết định đến hiệu quảcủa mô hình liên kết “bốn nhà”. Luận án tiến sĩ của tác giả Võ Hữu Phƣớc (2014) về Nghiên cứu, ứng dụng mô hình liên kết “bốn nhà” vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp nông thôn tỉnh Trà Vinh cũng đã nghiên cứu mô hình và đề xuất giải pháp đối với “liên kết bốn nhà” trong nông nghiệp ở Trà Vĩnh. Nghiên cứu đã đi đến kết luận phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam, vai trò của nông nghiệp, nông thôn và giai cấp nông dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tăng cƣờng mối quan hệ “bốn nhà”vừa là đòi hỏi khách quan vừa là một trong những nhân tố quyết định sự thành công của tăng trƣởng kinh tế và tiến bộ , công bằng xã hội, thực hiện mục tiêu 6 dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong sản xuất nông nghiệp liên kết “bốn nhà” để phát huy sức mạnh và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp là vô cùng cần thiết.
Tuy nhiên, để mối liên kết này bền chặt cần phải làm rõ vai trò của từng nhà và chú trọng đến “lợi ích” kinh tế cùa từng nhà.Liên kết “bốn nhà” trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn tỉnh Trà Vinh là xu hƣớng tất yếu và phù hợp với lộ trình phát triển tổng thể của Tỉnh. Tác giả đề xuất các mô hình sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Trà Vinh gồm: mô hình tập trung hóa, mô hình đa thành phần và mô hình trung gian… Trong các mô hình này phải đặt “nhà nông” vào vị trí trung tâm, “Nhà khoa học” phải khách quan và công tâm, “Nhà nƣớc” và “nhà doanh nghiệp: quyết định sự thành bại trong mối liên kết. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Trang Thanh (2015) về Thực trạng liên kết giữa sản xuất và chế biên chè ở tỉnh Nghệ An trong đó đã đề cập đến mô hình liên kết bốn bên. Nghiên cứu chỉ ra Nghệ An đã hình thành vùng chuyên canh chè gắn với công nghiệp chế biến đạthiệu quả kinh tế cao.
Năng suất và sản lƣợng tăng nhanh. Hàng năm, tỉnh Nghệ An đã xuất khẩukhoảng 5.000 tấn chè sang các nƣớc trên thế giới. Tuy nhiên, mối liên kết giữa sản xuấtvà chế biến chè chƣa bền vững: số lƣợng cơ sở chế biến mini tăng nhanh, nguyên liệu mớichỉ đáp ứng đƣợc khoảng 45% công suất chế biến; hiện tƣợng tranh mua nguyên liệu vẫnxảy ra,. Vì vậy, để phát triển vùng chè bền vững, cần phải quy hoạch vùng và phân vùngnguyên liệu theo từng cơ sở chế biến; giám sát chất lƣợng sản phẩm từ sản xuất đến chếbiến; mở rộng quy mô trồng chè của hộ nông dân; Ngoài liên kết bốn nhà, cần phải liên kếtvới ngân hàng để hỗ trợ vốn cho cả doanh nghiệp và ngƣời nông dân.
Kế thừa những kết quả nghiên cứu trƣớc đây về cơ sở lý luậnliên kết, mối liên kết bốn nhà, các mô hình liên kết, luận văn tập trung thu thập, tổng hợp, xử lý số liệu, phân tích, đánh giá thực trạng mối “liên kết bốn nhà” trong phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Bình Giang tỉnh Hải Dƣơng để đƣa ra những giải pháp, kiến nghị phù hợp. Do đó, đề tài nghiên cứu của tác giả vẫn có ý nghĩa thực tiễn, khoa học và không trùng lặp với các công trình đã có. Cơ sởlý luận về mối liên kết bốn nhà trong phát triển nông nghiệp 1. Khái niệm vềmối“liên kết bốn nhà” Trong hoạt động kinh tế, “liên kết” đƣợc hiểu là hình thức hợp tác và phối hợp thƣờng xuyên các hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng đề ra và thực hiện các chủ trƣơng, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinh doanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo hƣớng có lợi nhất.
Liên kết kinh tế đƣợc thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của nhà nƣớc nhằm mục tiêu tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hóa và hợp tác hóa, khai thác tốt tiềm năng và bù đắp sự thiếu hụt của từng thành viên tham gia liên kết, hoặc để cùng nhau tạo thị trƣờng chung, phân định hạn mức sản lƣợng cho từng đơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm để bảo vệ lợi ích của nhau. Liên kết “bốn nhà” thể hiện sự liên kết của các tác nhân có liên quan trong một quá trình nào đó.Xét trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, cách đây hơn 10 năm, Chính phủ đã yêu cầu chính quyền, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp phải gắn kết với nông dân trong quá trình sản xuất; đặc biệt là khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế kí kết hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hóa với ngƣời nông dân (hợp tác xã, hộ nông dân, trang trại, đại diện hộ nông dân) thông qua Quyết định 80/2002/QĐ – TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tƣớng chính phủ. Đây là chủ trƣơng “liên kết bốn nhà” trong phát triển nông nghiệp Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Chính vì vậy theo từ điển bách khoa mở định nghĩa: liên kết bốn nhà trong nông nghiệp là sự liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp và nhà khoa học dưới sự hỗ trợ của nhà nước nhằm gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định, bền vững; tiến tới sản xuất hàng hóa quy mô lớn, hiện đại.
Xét về bản chất “Liên kết bốn nhà”cũng là một kiểu hợp tác sản xuất kinh doanh.“Liên kết bốn nhà” nếu chặt chẽ thì thành một tổ chức, còn nếu chỉ bằng hợp 8 đồng thì là một cơ chế, một mối quan hệ kinh tế đƣợc quy định mang tính pháp lý.