Tổng quan nghiên cứu

Sau khi tái lập tỉnh vào ngày 01 tháng 01 năm 1997 theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX, tỉnh Phú Thọ đối mặt với muôn vàn khó khăn của một địa phương trung du miền núi phía Bắc. Tại thời điểm năm 1997, tỷ lệ hộ đói nghèo toàn tỉnh chiếm tới 21,0% tổng số hộ dân cư (theo chuẩn quy định tại Thông báo số 1751/LĐTBXH), tập trung chủ yếu ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các huyện miền núi. Trước bối cảnh đó, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã xác định công tác xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2010. Luận văn tiến hành phân tích hệ thống chủ trương, đánh giá khách quan các thành tựu, chỉ rõ hạn chế và đúc kết những bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn sâu sắc.

Phạm vi nghiên cứu được xác lập toàn diện trên địa bàn tỉnh Phú Thọ gồm 13 đơn vị hành chính cấp huyện và 274 đơn vị hành chính cấp xã, trong khung thời gian 14 năm (1997 - 2010). Đây là thời kỳ bản lề đánh dấu sự chuyển biến từ nhận thức hỗ trợ cứu trợ xã hội sang giảm nghèo bền vững dựa trên phát huy nội lực. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, góp phần cung cấp luận cứ lịch sử vững chắc cho các cấp ủy Đảng và chính quyền trong việc hoạch định chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm cho hơn 660.000 lao động toàn tỉnh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương đạt mức bình quân trên 8,16%/năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn được xây dựng dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về an sinh xã hội, quyền con người và bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Khung lý thuyết vận dụng tập trung vào hai lý thuyết cốt lõi: Lý thuyết chức năng lãnh đạo công của Đảng cầm quyền và Lý thuyết phát triển không loại trừ gắn với phân tầng xã hội hợp thức. Đảng cầm quyền thực hiện tính chính đáng của quyền lực thông qua việc phân bổ công bằng các nguồn lực phát triển, đem lại lợi ích thiết thân cho nhân dân, đặc biệt là tầng lớp yếu thế.

Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ tương tác đa chiều giữa đường lối chỉ đạo của Tỉnh ủy, sự thể chế hóa quản lý của Ủy ban nhân dân các cấp và sự tham gia của các tổ chức đoàn thể nhân dân cùng đối tượng thụ hưởng. Hệ thống khái niệm chủ đạo được chuẩn hóa gồm: đói nghèo tuyệt đối và tương đối, chuẩn nghèo theo tiêu chí thu nhập qua các thời kỳ (chuẩn dưới 13kg gạo/người/tháng giai đoạn 1993 - 1995 đến chuẩn tiền tệ 45.000 - 90.000 đồng giai đoạn 1998 - 2000), xóa đói giảm nghèo bền vững và phân tầng xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp tin cậy, bao gồm hệ thống văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XIV, XV, XVI, các nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy từ năm 1997 đến năm 2010, báo cáo tổng kết hàng năm của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ. Cỡ mẫu khảo sát bao quát toàn bộ 13 huyện, thị xã, thành phố với 274 xã, phường, thị trấn; trong đó tập trung phân tích sâu dữ liệu điển hình tại 50 xã đặc biệt khó khăn và 88 xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 40% trở lên.

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic. Lý do lựa chọn là nhằm tái hiện trung thực, sinh động tiến trình lịch sử lãnh đạo xóa đói giảm nghèo theo trình tự thời gian 1997 - 2010, đồng thời khái quát hóa bản chất, quy luật vận động của chính sách. Luận văn bổ trợ bằng các phương pháp liên ngành: phê phán sử liệu, phân tích - tổng hợp, thống kê so sánh và điều tra xã hội học nhằm đối chiếu định lượng các chỉ số kinh tế - xã hội qua 14 năm thực hiện.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ giảm nghèo giai đoạn 1997 - 2000 đạt kết quả vượt bậc. Tỷ lệ hộ đói nghèo toàn tỉnh đã giảm mạnh từ 21,0% năm 1997 xuống còn 11,0% năm 2000, bình quân giảm 2,5%/năm, hoàn thành trước thời hạn mục tiêu cơ bản xóa hộ đói kinh niên. Giai đoạn 2001 - 2005, tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm từ 19,6% theo chuẩn giai đoạn 2001 - 2005 xuống còn 5,0% vào cuối năm 2005.

Thứ hai, công tác huy động nguồn lực tài chính và tín dụng chính sách đạt quy mô ấn tượng. Trong giai đoạn 1997 - 2000, toàn tỉnh đã huy động trên 500 tỷ đồng cho các chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo; hệ thống tín dụng ưu đãi đã giải ngân 127,6 tỷ đồng cho 134.255 lượt hộ nghèo vay vốn phát triển sản xuất. Đến năm 2005 theo chuẩn nghèo mới tiếp cận đa chiều, tỉnh ghi nhận 94.472 hộ nghèo (chiếm 31,08%), từ đó Tỉnh ủy đã kịp thời điều chỉnh nguồn lực trợ lực có trọng tâm.

Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp gắn chặt với giải quyết việc làm. Toàn tỉnh đã thực hiện trồng mới và bảo vệ 167.943 ha đất lâm nghiệp, nâng tỷ lệ che phủ rừng lên gần 48%, tạo vùng nguyên liệu giấy ổn định. Tổng số lao động được giải quyết việc làm giai đoạn 1996 - 2000 đạt 63.122 người (đạt 97,73% kế hoạch), trong đó tạo việc làm mới cho 15.866 người, kéo giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị xuống còn 4,0%.

Thứ tư, hạ tầng kinh tế - xã hội vùng sâu, vùng xa có bước đột phá. Đến năm 2000, 100% số xã toàn tỉnh đã có đường ô tô đến trung tâm; 61 trên tổng số 65 dự án thuộc Chương trình 135 được triển khai kiên cố hóa, giải quyết căn bản nhu cầu điện, trường học, trạm y tế và nước sinh hoạt hợp vệ sinh.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi tạo nên thành tựu là sự đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, biết cụ thể hóa các chỉ thị của Trung ương như Chỉ thị 23 của Ban Chấp hành Trung ương năm 1997, Quyết định 133/1998/QĐ-TTg và Quyết định 135/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thành các nghị quyết chuyên đề sát hợp thực tiễn trung du như Nghị quyết 03-NQ/TU về vùng nguyên liệu giấy, Nghị quyết 05-NQ/TU về nhân lực, Nghị quyết 17-NQ/TU về 31 xã đặc biệt khó khăn. Sự phối hợp đồng bộ giữa Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể (Hội Nông dân tổ chức 964 lớp tập huấn cho 91.857 lượt hộ, Hội Cựu chiến binh xây dựng 1.615 trang trại) đã khơi dậy ý chí tự lực của người dân.

Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa thực sự vững chắc. Tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện miền núi vùng cao như Tân Sơn (42,78%), Yên Lập (29,61%), Thanh Sơn (24,77% đến 57%) vẫn ở mức cao. Khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn (27,36%) và thành thị (5,8%) lên tới 4,7 lần. Toàn bộ tiến trình biến động tỷ lệ nghèo và cơ cấu phân bổ vốn tín dụng qua 14 năm có thể được trực quan hóa sinh động qua biểu đồ đường kết hợp cột (Combo Chart) và bảng tổng hợp ma trận phân bổ nguồn lực theo địa bàn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo và quy hoạch phát triển kinh tế vùng. Ban Thường vụ Tỉnh ủy cần ban hành các nghị quyết chuyên đề về giảm nghèo bền vững theo hướng đa chiều giai đoạn 2011 - 2020; chỉ đạo Ủy ban nhân dân tỉnh ưu tiên bố trí ít nhất 20% đến 25% ngân sách đầu tư công địa phương hằng năm cho hạ tầng giao thông kết nối liên xã tại các huyện vùng cao Tân Sơn, Thanh Sơn, Yên Lập.

Thứ hai, mở rộng quy mô tín dụng chính sách và đa dạng hóa sinh kế. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Phú Thọ chủ trì nâng mức tăng trưởng dư nợ cho vay hộ nghèo và cận nghèo đạt tối thiểu 12% - 15%/năm trong giai đoạn 2011 - 2015; phối hợp Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng 50 - 70 mô hình liên kết kinh tế trang trại - nông lâm kết hợp, bảo đảm 100% hộ nghèo có nhu cầu được tiếp cận vốn vay ưu đãi.

Thứ ba, đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh triển khai chiến lược dạy nghề cho 25.000 - 30.000 lao động nông thôn mỗi năm; nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ mức 20% năm 1999 lên trên 50% vào năm 2015 và 65% vào năm 2020 theo chuẩn công nghiệp hóa.

Thứ tư, nâng cao năng lực quản trị công và thúc đẩy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện cải cách thủ tục hành chính công khai, minh bạch quy trình rà soát hộ nghèo theo định kỳ hằng năm; phát huy vai trò của 2.300 tuyên truyền viên cơ sở và các tổ chức quần chúng nhằm xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chính sách trợ cấp của Nhà nước.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo, cấp ủy Đảng và cơ quan quản lý nhà nước các cấp. Luận văn cung cấp bức tranh toàn cảnh về phương thức lãnh đạo và cơ chế thể chế hóa chính sách giảm nghèo trên địa bàn 13 huyện, thị, thành; giúp các nhà hoạch định chính sách nắm vững quy luật phân tầng xã hội và giải pháp lồng ghép hiệu quả Chương trình 135 với các chương trình mục tiêu quốc gia.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lịch sử Đảng, Xây dựng Đảng, Khoa học Quản lý và Chính sách công. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương, hệ thống hóa nguồn tư liệu thực chứng phong phú trong suốt 14 năm (1997 - 2010).

Thứ ba, các tổ chức chính trị - xã hội như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và các tổ chức phi chính phủ. Tài liệu cung cấp nhiều bài học thực tiễn về mô hình chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho hơn 90.000 lượt nông dân, phương thức ủy thác tín dụng và xây dựng các câu lạc bộ khuyến nông tự quản tại cơ sở.

Thứ tư, các doanh nghiệp nông - lâm nghiệp và chủ trang trại khu vực trung du. Nghiên cứu đúc kết tiềm năng khai thác 150.000 ha đất đồi rừng và các giải pháp liên kết chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp chế biến giấy, chè, gỗ với kinh tế hộ gia đình nghèo.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng tỷ lệ nghèo đói tại tỉnh Phú Thọ khi mới tái lập tỉnh năm 1997 diễn ra như thế nào?
Khi tái lập tỉnh vào năm 1997, Phú Thọ có tỷ lệ hộ nghèo lên tới 21,0% theo chuẩn quy định tại Thông báo số 1751/LĐTBXH. Đói nghèo tập trung gay gắt tại các huyện miền núi vùng cao như Tân Sơn, Thanh Sơn, Yên Lập do xuất phát điểm kinh tế thấp và kết cấu hạ tầng giao thông lạc hậu.

Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã ban hành những chủ trương then chốt nào để giải quyết việc làm và giảm nghèo?
Tỉnh ủy đã ban hành hệ thống nghị quyết đồng bộ như Nghị quyết 03-NQ/TU về vùng nguyên liệu giấy, Nghị quyết 05-NQ/TU về đào tạo nhân lực, Nghị quyết chuyên đề kinh tế trang trại năm 1998 và Nghị quyết 17-NQ/TU năm 1999 về 31 xã đặc biệt khó khăn, mở đường cho chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp.

Hiệu quả huy động nguồn vốn tín dụng cho người nghèo trong giai đoạn 1997 - 2000 đạt mức bao nhiêu?
Giai đoạn 1997 - 2000, toàn tỉnh đã huy động tổng nguồn lực trên 500 tỷ đồng, giải ngân 127,6 tỷ đồng vốn tín dụng ưu đãi cho 134.255 lượt hộ nghèo vay phát triển kinh tế hộ; đồng thời thu hút 1.333 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển và 6,3 triệu USD từ 21 tổ chức phi chính phủ.

Tại sao khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị tại Phú Thọ lại có sự chênh lệch lớn?
Sự chênh lệch bắt nguồn từ tốc độ đô thị hóa nhanh tại Việt Trì và thị xã Phú Thọ với tỷ lệ nghèo chỉ 5,8%, trong khi khu vực nông thôn chiếm tới 27,36% (chênh lệch 4,7 lần) do phụ thuộc thuần nông, thiếu nghề phụ, tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt khoảng 20%.

Những kinh nghiệm lịch sử lớn nhất được đúc kết từ công tác lãnh đạo xóa đói giảm nghèo là gì?
Kinh nghiệm cốt lõi là luôn bám sát thực tiễn địa bàn trung du, cụ thể hóa chủ trương thành đề án khả thi, đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực, lồng ghép Chương trình 135 với phát triển 167.943 ha đất lâm nghiệp và phát huy vai trò chủ động của chính người nghèo.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ tiến trình 14 năm (1997 - 2010) Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo với những bước chuyển mang tính lịch sử.
  • Hệ thống hóa các thành tựu nổi bật: hạ tỷ lệ hộ nghèo từ 21,0% năm 1997 xuống 11,0% năm 2000, giải quyết việc làm cho 63.122 lao động và đưa 100% xã có đường ô tô về trung tâm.
  • Phân tích thẳng thắn những hạn chế về nguy cơ tái nghèo tại 88 xã khó khăn và tình trạng chênh lệch mức sống gấp 4,7 lần giữa thành thị và nông thôn.
  • Đúc kết 6 bài học kinh nghiệm sâu sắc về bám sát thực tiễn trung du, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đa dạng hóa nguồn lực và tăng cường quản trị cơ sở giai đoạn 2011 - 2020.
  • Kêu gọi các nhà nghiên cứu, nhà quản lý tiếp tục khai thác hệ thống dữ liệu thực chứng của công trình để hoàn thiện chính sách an sinh xã hội bền vững trong kỷ nguyên mới.