phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương, 8 tiết. Chủ trương của Đảng bộ huyện Quỳnh Lưu về xây dựng lực lượng vũ trang. Đảng bộ huyện Quỳnh Lưu chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang từ năm 1986 đến 2004. Kết quả và một số kinh nghiệm trong xây dựng lực lượng vũ trang huyện Quỳnh Lưu.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN QUỲNH LƢU VỀ XÂY DỰNG LỰC LƢỢNG VŨ TRANG 1. Yêu cầu khách quan xây dựng lực lƣợng vũ trang trên địa bàn huyện Quỳnh Lƣu 1. Đặc điểm về vị trí địa lý, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội huyện Quỳnh Lưu * Vị trí địa lý Quỳnh Lưu là một huyện thuộc phía bắc của tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh khoảng 60 km về phía bắc. Phía bắc huyện Quỳnh Lưu giáp huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá.
Phía nam và tây nam Quỳnh Lưu giáp huyện Diễn Châu và huyện Yên Thành với ranh giới khoảng 31 km. Phía tây, giáp huyện Nghĩa Đàn với ranh giới khoảng 33 km. Phía đông, huyện Quỳnh Lưu giáp biển đông với đường bờ biển dài 34 km. Diện tích tự nhiên của huyện Quỳnh lưu là 586,4 km2 chiếm 3,58% diện tích toàn tỉnh, đứng hàng thứ nhất các huyện đồng bằng, thành thị và đứng hàng thứ 11 so với các huyện thị của tỉnh Nghệ An.
Chiều dài huyện từ bắc xuống nam là khoảng 26 km (tính theo chiều dài quốc lộ 1A chạy qua), chiều rộng từ bờ biển đông đến điểm cực tây khoảng 22 km. Địa hình Quỳnh Lưu thấp dần từ bắc xuống nam và từ tây sang đông. Đó là địa hình rất đa dạng, đất đai tự nhiên được cấu tạo khác nhau. Có thể chia địa hình của huyện ra làm 3 vùng tiêu biểu: vùng ven biển, vùng đồng bằng và vùng đồi núi.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sông ngòi, kênh đào, cửa biển Quỳnh Lưu đóng một vai trò khá quan trọng trong cấu tạo hệ thống địa hình cũng như ảnh hưởng tới bộ mặt kinh tế - xã hội của huyện, như Sông Giát, Sông Hoàng Mai, đặc biệt, có một con kênh khá dài và rộng (dài hơn 20km) được gọi nhiều tên khác nhau tuỳ từng giai đoạn nhưng phổ biến nhất và thành một tên chung là kênh nhà Lê. Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì kênh này được đào từ thời Bắc thuộc và được đào thêm với quy mô lớn vào thời Tiền Lê năm thứ ba của Lê Đại Hành (982). Qua nhiều thế kỷ, kênh đào này được gia cố, trở thành tuyến vận chuyển khá quan trọng đáp ứng cho nhu cầu kinh tế và quốc phòng trong vùng. Hệ thống giao thông ở Quỳnh Lưu phong phú và thuận tiện.
Tuyến đường sắt bắc - nam chạy qua huyện từ xã Quỳnh Thiện phía bắc đến xã Quỳnh Giang phía nam dài hơn 30 km, có hai ga: Hoàng Mai và Cầu Giát. Đây là hai ga được coi là trọng yếu trung chuyển hàng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày nay trở thành ga phụ trong tuyến vận chuyển đuờng sắt bắc nam. Quỳnh Lưu còn một tuyến đường sắt nữa theo hướng tây bắc, xuất phát từ ga Cầu Giát lên huyện Nghĩa Đàn dài 15 km. Tuyến đường sắt này chủ yếu phục vụ cho việc vận chuyển hàng hoá, nông, lâm sản.
Trong các tuyến đường bộ, lớn nhất là quốc lộ 1A chạy qua địa bàn huyện Quỳnh Lưu dài 26 km. Sau quốc lộ 1A là quốc lộ 48 chạy từ Yên Lý lên Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, đoạn chạy qua Quỳnh Lưu chỉ dài hơn 10 km, nhưng cũng là tuyến giao lưu rất quan trọng nối Quỳnh Lưu với vùng núi của tỉnh Nghệ An. Tỉnh lộ là đường 37 A dài 25 km từ Lạch Quèn qua Ngò, thị trấn Cầu Giát lên ngã ba Tuần nối với quốc lộ 48. Huyện lộ có rất nhiều con đường có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội và an ninh, quốc phòng.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy là quanh trục quốc lộ 1A, đường Quỳnh Lưu đã tạo ra hệ thống đường “xương cá”, từ hệ thống đường “xương cá” này lại tạo ra đường “bàn cờ”, tức là đường liên xã, liên thôn. Đường biển góp phần không nhỏ cho cư dân Quỳnh Lưu giao lưu với các tỉnh phía bắc và phía nam. Nhìn chung, Quỳnh Lưu có vị trí địa lý quan trọng đối với quốc phòng, bởi vì nó nằm vào thế “nam Thanh bắc Nghệ” có các đường giao thông chiến lược chạy qua, có địa thế thông ra biển đông và là bàn đạp ra bắc, vào nam, lên miền tây. Có thể nói, Quỳnh lưu nhiều lần đã trở thành nơi chiến địa, do vậy, được đánh giá rằng: “Quỳnh Lưu chiến địa, Mai giang huyết thống”.
Dân số Quỳnh Lưu 340.988 người, trong đó có 35.000 người theo đạo thiên chúa nằm ở 21 xã (chiếm 12% dân số so với toàn huyện) và có gần 2000 người là đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu dân tộc Thái thuộc nhóm Mãn Thanh theo cách gọi của chính họ. Số hộ người Thái hiện nay chủ yếu sống ở xã Quỳnh Thắng phía tây của huyện. Theo số liệu thống kê thì dân số Quỳnh Lưu đông nhất so với các huyện, thị của tỉnh Nghệ An. Kinh tế Quỳnh Lưu đa dạng, nhưng nét chung nhất nông nghiệp là chủ yếu.
Nông nghiệp nổi bất nhất là trồng lúa và màu. Kinh tế biển cũng là một trong những lợi thế của Quỳnh Lưu do có hàng chục km bờ biển và 3 cửa lạch. Hải sản không những cung cấp cho nhu cầu của cư dân trong vùng mà còn cho cả những vùng lân cận. Ngoài ra, nhân dân Quỳnh Lưu còn có thêm nghề làm muối với tổng diện tích đất có thể làm 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đồng muối lên tới khoảng 1000 ha.
Ngoài nghề làm muối còn có các nghề: làm gạch ngói, nung vôi, đục đá, mộc, nuôi tằm, dệt lụa, làm nón, đóng thuyền… Từ năm 1986 đến 2004, trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng bộ huyện Quỳnh Lưu đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành, địa phương phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, khai thác mọi tiềm năng, lợi thế, phát triển kinh tế toàn diện. Đến năm 2004 kinh tế của Quỳnh Lưu tăng trưởng 13,1%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2004 là 4.000 đồng/người một năm. Hộ nghèo đói giảm từ 28% năm 1990 xuống 10,07% năm 2004.
Sản xuất nông nghiệp có bước đi ổn định và khá vững chắc, sản lượng lương thực năm 2004 đạt 105.551 tấn so với năm 1990.[48] Nghề nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản phát triển mạnh, phong phú, phát huy có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh kinh tế vùng biển và ven biển. Công nghiệp xây dựng đạt mức tăng trưởng cao và từng bước tăng tỉ trọng trong cơ cấu kinh tế, nhiều ngành nghề phát triển nhanh, mạnh như: Vật liệu xây dựng, cơ khí, điện, sửa chữa đóng mới tàu thuyền, vừa bảo đảm phát triển kinh tế, vừa bảo đảm yêu cầu phục vụ quốc phòng khi cần thiết. Về cơ sở hạ tầng, Huyện uỷ đã huy động sức dân và tranh thủ mọi nguồn vốn đầu tư xây dựng điện, đường, trường, trạm, với tổng đầu tư trong hơn 15 năm gần 1.200 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp 43%. Đến nay, 100% số xã đã có điện lưới quốc gia.
Hệ thống giao thông nông thôn (trong đó có 50% đường nhựa), kênh mương, hồ đập được xây dựng. Văn hoá huyện Quỳnh Lưu phát triển khá toàn diện. Hàng năm, huyện đã tổ chức nhiều cuộc giao lưu văn hoá, văn nghệ. Đến năm 2004 toàn huyện đã có 76% số gia đình đạt Gia đình văn hoá, có 203 xóm, cơ quan, trường học 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được công nhận Làng văn hoá, đơn vị văn hoá, 8 đơn vị được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 123 bà mẹ được phong tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng.
[48] Giáo dục - đào tạo có nhiều chuyển biến, tiến bộ rõ nét cả về số lượng và chất lượng, là đơn vị nhiều năm đạt tiêu chuẩn tiên tiến xuất sắc của tỉnh. Tỷ lệ huy động trẻ em đến trường đạt kế hoạch đề ra. Huyện đã chú trọng quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, đáp ứng ngày càng tốt hơn quá trình dạy và học. Năm 2004, toàn huyện có 196 trường học (trong đó có 9 trường THPT) tăng 49 trường.
Số học sinh các cấp học 112.130 em so với năm 1989, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, hàng năm học sinh giỏi các trường đều tăng, nhiều học sinh đạt giải học sinh giỏi quốc gia, tỉnh và huyện, năm 2004 có 5.638 học sinh giỏi huyện, tăng 3.750 em, học sinh giỏi tỉnh 663 em, tăng 602 em so với năm 1996. Đến năm 2004 đã có 28 xã hoàn thành phổ cập THCS và 17 trường đạt tiêu chuẩn quốc gia, mở 6 trung tâm học tập cộng đồng bảo đảm nhu cầu học tập thường xuyên cho nhân dân lao động.[48] Công tác y tế có nhiều chuyển biến, chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được nâng lên; thực hiện tốt công tác y tế dự phòng và chương trình 12 quân dân y kết hợp, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền dân số, kế hoạch hoá gia đình, bảo vệ chăm sóc bà mẹ trẻ em. Đến năm 2004 đã có 51,2% trạm trưởng y tế là bác sỹ, có 158 xóm không có người sinh con thứ 3, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng là 32,12%.
Tỷ lệ tăng dân số 1,04%.[48] Việc thực hiện chính sách xã hội, chính sách hậu phương quân đội có nhiều cố gắng. Đã cơ bản hoàn thành việc giải quyết những tồn đọng và khen thưởng sau các cuộc chiến tranh, thực hiện chi trả chế độ cho các đối tượng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầy đủ, kịp thời. Phong trào “đền ơn, đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn” đã được đông đảo quần chúng nhân dân hưởng ứng bằng nhiều hình thức như: phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng, xây nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm, vườn tình nghĩa… đã góp phần nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho các đối tượng chính sách. Hàng năm đã tạo được việc làm cho khoảng 1.500 đến 2000 người lao động.
Cuộc vận động “ngày vì người nghèo” đã được các cấp, các ngành và mọi tầng lớp nhân dân đồng tình ủng hộ. Đến nay đã thu được 1 tỷ 158 triệu đồng, làm được 170 nhà đại đoàn kết, sửa chữa 50 nhà, làm 5 nhà văn hoá cho 5 bản dân tộc.