Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện đại từ thái nguyên lãnh đạo công tác dân vận từ năm 2001 đến năm 2015

Luận văn thạc sĩ phân tích ussh đảng bộ huyện đại từ thái nguyên lãnh đạo công tác dân vận từ năm 2001 đến năm 2015, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

190
5
1

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu

0.3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

0.4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

0.6. Đóng góp và ý nghĩa thực tiễn

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐẠI TỪ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005

1.1. Chủ trƣơng của Đảng bộ huyện Đại Từ

1.2. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo công tác dân vận của Đảng bộ huyện Đại Từ

1.3. Chủ trƣơng của Đảng bộ huyện Đại Từ đối với công tác dân vận từ năm 2001 đến năm 2005

1.4. Quá trình chỉ đạo thực hiện công tác dân vận từ năm 2001 đến năm 2005

1.5. Chỉ đạo đối với chính quyền

1.6. Chỉ đạo công tác dân vận của MTTQ và các đoàn thể

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐẠI TỪ LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC DÂN VẬN TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015

2.1. Yêu cầu mới đặt ra về công dân vận và chủ trƣơng đẩy mạnh của Đảng bộ

2.2. Những yêu cầu mới đặt ra về công tác dân vận

2.3. Chủ trƣơng Đảng bộ huyện Đại Từ về công tác dân vận từ năm 2005 đến năm 2015

2.4. Sự chỉ đạo đẩy mạnh việc thực hiện công tác dân vận của Đảng bộ huyện Đại Từ từ năm 2005 đến năm 2015

2.5. Chỉ đạo đối với chính quyền

2.6. Chỉ đạo đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Về ưu điểm và nguyên nhân

3.2. Về hạn chế và nguyên nhân

3.3. Kinh nghiệm và một số vấn đề đặt ra

3.3.1. Trong xác định chủ trương

3.3.2. Trong chỉ đạo thực hiện

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo công tác dân vận huyện Đại Từ giai đoạn 2001 2015

Công tác dân vận là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng bộ huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2001-2015. Giai đoạn này chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của công tác dân vận, với nhiều chủ trương và chính sách được triển khai nhằm nâng cao đời sống nhân dân. Đảng bộ huyện đã xác định rõ vai trò của công tác dân vận trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

1.1. Lịch sử và bối cảnh công tác dân vận tại huyện Đại Từ

Công tác dân vận tại huyện Đại Từ đã có lịch sử lâu dài, bắt đầu từ những năm đầu của thế kỷ 20. Trong giai đoạn 2001-2015, huyện đã có nhiều thay đổi về cơ cấu dân số và kinh tế, tạo ra những thách thức mới cho công tác dân vận.

1.2. Vai trò của công tác dân vận trong phát triển huyện Đại Từ

Công tác dân vận không chỉ giúp nâng cao nhận thức của người dân mà còn tạo ra sự đồng thuận trong thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước. Điều này đã góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của huyện.

II. Những thách thức trong lãnh đạo công tác dân vận huyện Đại Từ giai đoạn 2001 2015

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, công tác dân vận tại huyện Đại Từ vẫn gặp phải không ít thách thức. Những vấn đề như sự thiếu đồng bộ trong triển khai chính sách, sự chậm trễ trong việc nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân đã ảnh hưởng đến hiệu quả công tác dân vận.

2.1. Thiếu sự đồng bộ trong chính sách dân vận

Một trong những thách thức lớn nhất là sự thiếu đồng bộ trong việc triển khai các chính sách dân vận. Nhiều chính sách chưa được cụ thể hóa thành các chương trình hành động rõ ràng, dẫn đến khó khăn trong thực hiện.

2.2. Khó khăn trong việc nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân

Việc nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân còn chậm, dẫn đến một số vấn đề bức xúc chưa được giải quyết kịp thời. Điều này làm giảm niềm tin của người dân vào chính quyền.

III. Phương pháp lãnh đạo công tác dân vận hiệu quả tại huyện Đại Từ

Để nâng cao hiệu quả công tác dân vận, Đảng bộ huyện Đại Từ đã áp dụng nhiều phương pháp lãnh đạo sáng tạo. Các phương pháp này không chỉ giúp tăng cường sự gắn kết giữa chính quyền và nhân dân mà còn tạo ra những chuyển biến tích cực trong công tác dân vận.

3.1. Tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục

Công tác tuyên truyền và giáo dục được coi là một trong những phương pháp quan trọng nhất. Đảng bộ huyện đã tổ chức nhiều hội nghị, lớp tập huấn nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân.

3.2. Xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa chính quyền và nhân dân

Việc xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa chính quyền và nhân dân là rất cần thiết. Đảng bộ huyện đã tổ chức nhiều hoạt động giao lưu, đối thoại trực tiếp với nhân dân để lắng nghe ý kiến và phản hồi kịp thời.

IV. Kết quả đạt được từ công tác dân vận tại huyện Đại Từ giai đoạn 2001 2015

Công tác dân vận tại huyện Đại Từ trong giai đoạn 2001-2015 đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Những thành tựu này không chỉ thể hiện qua các chỉ tiêu kinh tế - xã hội mà còn qua sự hài lòng của người dân đối với chính quyền.

4.1. Tăng cường sự tham gia của nhân dân vào các phong trào

Sự tham gia của nhân dân vào các phong trào thi đua yêu nước đã tăng lên rõ rệt. Nhiều mô hình dân vận hiệu quả đã được triển khai, thu hút đông đảo người dân tham gia.

4.2. Nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân

Công tác dân vận đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Nhiều chương trình phát triển kinh tế, xã hội đã được thực hiện, mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho công tác dân vận huyện Đại Từ

Kết thúc giai đoạn 2001-2015, công tác dân vận tại huyện Đại Từ đã để lại nhiều bài học quý giá. Để tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được, cần có những định hướng rõ ràng cho công tác dân vận trong tương lai.

5.1. Định hướng phát triển công tác dân vận trong giai đoạn tới

Cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, tăng cường sự tham gia của nhân dân vào các quyết định của chính quyền. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả công tác dân vận.

5.2. Tăng cường công tác phối hợp giữa các cấp ngành

Việc tăng cường công tác phối hợp giữa các cấp, ngành trong công tác dân vận là rất cần thiết. Điều này sẽ giúp tạo ra sự đồng bộ và hiệu quả trong triển khai các chính sách.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn bao gồm các phần sau: Chƣơng 1: Chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Đại Từ về công tác dân vận từ năm 2001 đến năm 2005 Chƣơng 2: Đảng bộ huyện Đại Từ lãnh đạo đẩy mạnh công tác dân vận từ năm 2005 đến năm 2015 Chƣơng 3: Nhận xét và kinh nghiệm 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐẠI TỪ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1. Chủ trƣơng của Đảng bộ huyện Đại Từ 1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo công tác dân vận của Đảng bộ huyện Đại Từ Tình hình dân cư - xã hội Huyện Đại Từ thời nhà Nguyễn thuộc Phủ Phú Bình, trấn Thái Nguyên. Năm 1831, Minh Mạng đổi Trấn thành Tỉnh, Đại Từ và châu Văn Lãng thuộc Phủ Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Ngày 1 - 8 - 1922, Đại Từ và Văn Lãng hợp lại gọi là huyện Đại Từ đến nay. Sau Cách mạng Tháng Tám huyện Đại Từ thuộc tỉnh Bắc Thái (cũ), đến ngày 1 - 1 - 1997 tỉnh Bắc Thái đƣợc Chính phủ quyết định tách ra thành 2 tỉnh là tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên, huyện Đại Từ thuộc tỉnh Thái Nguyên [31; tr. Đại Từ là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 25km, phía Bắc giáp huyện Định Hóa; phía Nam giáp huyện Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên; Phía đông giáp huyện Phú Lƣơng; phía Tây Bắc và Đông Nam giáp tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Phú Thọ. Trung tâm hành chính huyện đóng tại Phố Đình, thị trấn Đại Từ, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên [31; tr.

Huyện Đại Từ có nhiều đơn vị hành chính nhất tỉnh với 31 xã, thị trấn, tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 57.790ha, chiếm 16,58% về diện tích, 16,12% dân số cả tỉnh Thái Nguyên. Là huyện có diện tích lúa và diện tích chè lớn nhất tỉnh (Lúa: 12.500ha, chè trên 5.000ha), Đại Từ còn là nơi có khu du lịch Hồ Núi Cốc đƣợc cả nƣớc biết đến, đồng thời cũng là địa phƣơng giàu truyền 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống cách mạng yêu nƣớc với 169 điểm di tích lịch sử và danh thắng[ 31; tr. Là đơn vị đƣợc Nhà nƣớc hai lần phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lƣợng vũ trang. Về địa hình của huyện, Đại Từ đƣợc bao bọc xung quanh bởi nhiều dãy núi: Phía Tây và Tây Nam có dãy núi Tam Đảo ngăn cách giữa huyện và tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, độ cao từ 300 - 600m.

Phía Bắc có dãy Núi Hồng và Núi Chúa. Phía đông là dãy núi Pháo cao bình quân 150 - 300m. Phía Nam là dãy núi Thằn Lằn thấp dần từ bắc xuống nam [31; tr. Hệ thống sông Công chảy từ Định Hoá xuống theo hƣớng Bắc - Nam với chiều dài chạy qua huyện Đại Từ khoảng 2km.

Hệ thống các suối, khe nhƣ suối La Bằng, Quân Chu, Cát Nê. cũng là nguồn nƣớc quan trọng cho đời sống và trong sản xuất của huyện [31; tr. Hồ Núi Cốc có diện tích mặt nƣớc là 769ha, vừa là địa điểm du lịch nổi tiếng, vừa là nơi cung cấp nƣớc cho các huyện Phổ Yên, Phú Bình, thành phố Sông Công, thành phố Thái Nguyên và một phần cho tỉnh Bắc Giang. Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có các đập nƣớc, hồ nhƣ: Phƣợng Hoàng, Đoàn Ủy, Vai Miếu, Đập Minh Tiến, Phú Xuyên, Na Mao, Lục Ba, Đức Lƣơng với dung lƣợng nƣớc tƣới bình quân từ 40 - 50ha/đập và từ 180 - 500ha/hồ [31; tr.

Do ảnh hƣởng của vị trí địa lý, đặc biệt là các dãy núi bao bọc Đại Từ thƣờng có lƣợng mƣa lớn nhất tỉnh, trung bình lƣợng mƣa hàng năm từ 1.000mm rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp của huyện đặc biệt là cây chè [31; tr. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Do mƣa nhiều khí hậu thƣờng ẩm ƣớt độ ẩm trung bình từ 70 - 80% , nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 - 2700C, phù hợp cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng [31; tr. Về đất đai thổ nhƣỡng: Tổng diện tích tự nhiên 57. Trong đó: đất nông nghiệp chiếm 28,3%, đất lâm nghiệp chiếm 48,43%; đất chuyên dùng: 10,7%; đất thổ cƣ: 3,4%, còn lại là đất khác.

Tổng diện tích hiện đang sử dụng vào các mục đích là 93,8%, còn lại 6,2% diện tích tự nhiên chƣa sử dụng[31; tr. Toàn huyện Đại Từ có diện tích đất lâm nghiệp là 28.020ha, trong đó rừng tự nhiên là 16.022ha và rừng trồng từ 3 năm trở lên là 11. Chủ yếu là rừng phòng hộ, diện tích rừng kinh doanh không còn hoặc còn rất ít vì những năm trƣớc đây đã bị khai thác bừa bãi và tàn phá để làm nƣơng rẫy [31; tr. Đại Từ đƣợc thiên nhiên ƣu đãi phân bổ trên địa bàn nhiều tài nguyên khoáng sản nhất tỉnh, 15/31 xã, thị trấn có mỏ và điểm quặng.

Bên cạnh đó, Đại Từ là vùng có mỏ đất sét lớn nhất tỉnh ở xã Phú Lạc, ngoài ra còn có nguồn đá cát sỏi có thể khai thác quanh năm ở dọc theo các con sông Công, bãi bồi của các dòng chảy phục vụ vật liệu xây dựng tại chỗ của huyện. Về du lịch: Khu du lịch Hồ Núi Cốc với câu chuyện huyền thoại về Nàng Công chàng Cốc đã thu hút khách du lịch trong nƣớc và ngoài nƣớc, nằm ở phía Tây Nam của huyện, đây cũng là điểm xuất phát đi thăm khu di tích trong huyện nhƣ: Núi Văn, Núi Võ, khu rừng Quốc gia Tam Đảo, di tích lịch sử 27/7. Hiện đã hoàn thành xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch sinh thái sƣờn đông dãy Tam Đảo, hoàn thành quy hoạch chi tiết khu du lịch chùa Tây Trúc xã Quân Chu, Cửa Tử xã Hoàng Nông, quy hoạch chi tiết khu di tích lịch sử Lƣu 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhân Chú. Nhìn chung tiềm năng phát triển dịch vụ du lịch ở Đại Từ đã và đang đƣợc quan tâm phát triển, đây là tiềm năng lớn của huyện cũng nhƣ của tỉnh Thái Nguyên.

Về kết cấu hạ tầng: Huyện Đại Từ có mạng lƣới điện Quốc gia kéo đến 31 xã, thị trấn. Đại Từ có mật độ đƣờng giao thông khá cao so với các huyện trong tỉnh. Tổng chiều dài đƣờng bộ trên địa bàn khoảng gần 600km. Trong đó, đƣờng Quốc lộ 37 dài 32km, đã đƣợc dải nhựa, đƣờng tỉnh quản lý: Gồm 3 tuyến đƣờng: Đán đi Hồ núi Cốc; Đại Từ đi Phổ Yên; Khuôn Ngàn đi Minh Tiến - Định Hoá; Phú Lạc đi Đu-ôn (Phú Lƣơng) [31; tr.

Cùng với địa lý tự nhiên thuận lợi, điều kiện kinh tế - xã hội phát triển là cơ sở quyết định quan trọng trong sự tồn tại và phát triển bền vững của xã. Về kinh tế, trong suốt hàng nghìn năm lịch sử, cƣ dân từ nhiều vùng đất trong và ngoài tỉnh đã sớm tụ cƣ về Đại Từ để lập nghiệp và sinh sống. Nhân dân các dân tộc huyện Đại Từ đã dồn sức đắp đập làm cống, kênh mƣơng, bờ vùng, bở thửa để tiêu thoát và giữ nƣớc một cách kiên trì, liên tục, đƣa sản xuất nông nghiệp đi lên; bên cạnh đó, với địa hình đồi núi phổ biến, huyện Đại Từ còn có điều kiện phát triển cây lâm nghiệp và cây công nghiệp; hoạt động chăn nuôi cũng ngày càng đƣợc chú trọng góp phần nâng cao thu nhập đời sống của ngƣời dân nơi đây: trên địa bàn xã đã hình thành và phát triển nhiều mô hình gia trại vừa và nhỏ, chủ yếu là các gia trại nuôi lợn, gà. Bên cạnh việc tập trung phát triển nông nghiệp thì tiểu thủ công nghiệp cũng đƣợc chú trọng đầu tƣ nhƣ: sản xuất vật liệu xây dựng, vận tải, sửa chữa cơ khí, trồng chè, chế biến nông - lâm sản… Nhân dân từng bƣớc đƣớc mở rộng 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sang kinh doanh các sản phẩm từ cây chè - sản phẩm đặc trƣng của vùng đất Thái Nguyên và các hoạt động dịch vụ, thƣơng mại.

Công tác dân vận của Đảng bộ huyện Đại Từ trước năm 2001 Đại Từ là huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên là vùng đất có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi, phong cảnh hữu tình. Nhân dân các dân tộc Đại Từ tụ cƣ lâu đời, luôn cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, dũng cảm, kiên cƣờng trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm, yêu thƣơng, đoàn kết trong sinh hoạt cộng đồng. Năm 1936, Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dƣơng ra đời ở La Bằng, là tổ chức cơ sở Đảng thành lập sớm nhất tỉnh Thái Nguyên, đã khơi dậy ngọn lửa yêu nƣớc, tinh thần đấu tranh của nhân dân các dân tộc trong huyện, góp phần quan trọng đƣa phong trào đấu tranh lên một bƣớc phát triển mới. Đặc biệt từ khi Mặt trận Việt Minh đƣợc thành lập (1941), đã trở thành ngọn cờ đoàn kết dân tộc, thu hút hết thảy các giai cấp, tầng lớp có tinh thần chống đế quốc và tay sai, toàn huyện nhiệt tình hƣởng ứng phong trào Việt Minh, gấp rút chuẩn bị lực lƣợng vũ trang chống Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân Năm 1946, Đảng bộ huyện chính thức thành lập, trở thành ngọn cờ tiên phong lãnh đạo nhân dân Đại Từ.

Sau khi thành lập, Đảng bộ trực tiếp lãnh đạo nhân dân vƣợt qua khó khăn, diệt giặc đói, giặc dốt, nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân. Cả nƣớc đang nô nức xây dựng đời sống mới thì thực dân Pháp lại tiến hành xâm lƣợc nƣớc ta. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Đảng bộ huyện Đại Từ đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc chuẩn bị nơi ăn, chốn ở, đón tiếp chu đáo các cán bộ cũng nhƣ cơ quan của Trung ƣơng về sơ tán. Cũng trên mảnh đất này, những trận chiến đấu quyết liệt chống thực dân Pháp năm 1947 đã diễn ra, góp phần bảo vệ các cơ quan đầu não của ta.

Những 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngƣời dân công dũng cảm đã đối đầu với bom đạn của giặc, đoàn kết, giữ vững con đƣờng chiến lƣợc qua Đèo Khế sang Tuyên Quang lên Tây Bắc. Các phong trào yêu nƣớc: tòng quân, đóng thuế nông nghiệp, mua công trái, ủng hộ bộ đội. diễn ra sôi nổi. Từ đầu tháng 8 - 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh, một số cơ quan đầu não kháng chiến và một số đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Chính phủ, Quốc hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ