Khóa luận: Mối quan hệ giữa lạm phát và các biến vĩ mô tại Việt Nam (2011-2020)

Tổng quan mối quan hệ giữa lạm phát và các biến vĩ mô tại Việt Nam. Phân tích tác động của chi tiêu chính phủ, tỷ giá, sản lượng giai đoạn 2011-2020.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2021

52
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm và Bản Chất của Lạm Phát Tại Việt Nam

Lạm phát là hiện tượng kinh tế vĩ mô phổ biến ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế Việt Nam. Đây là sự gia tăng bền vững về mức giá tiêu dùng (CPI) trong một khoảng thời gian nhất định. Từ giai đoạn 2011-2020, Việt Nam đã trải qua nhiều chu kỳ lạm phát khác nhau, từ những năm tăng cao như 2011 với mức 18% đến những giai đoạn ổn định hơn vào các năm 2015-2016. Hiểu rõ bản chất của lạm phát giúp các nhà hoạch định chính sách có thể điều chỉnh các biến vĩ mô một cách phù hợp. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được sử dụng để đo lường mức độ lạm phát, phản ánh sức mua của người dân và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế xã hội.

1.1. Định Nghĩa Lạm Phát

Lạm phát được định nghĩa là sự tăng bền vững về giá cả hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế. Tại Việt Nam, chỉ số CPI là công cụ đo lường chính thức. Lạm phát ảnh hưởng âm tính đến sức mua thực của người dân và làm suy yếu giá trị tiền tệ. Sự gia tăng giá cả kéo dài có thể gây bất ổn trong nền kinh tế.

1.2. Các Loại Lạm Phát

Tại Việt Nam, có ba loại lạm phát chính: lạm phát do cầu kéo khi nhu cầu vượt quá cung cấp, lạm phát do chi phí kéo khi chi phí sản xuất tăng, và lạm phát nhập khẩu do biến động tỷ giá hối đoái. Mỗi loại đòi hỏi những chính sách can thiệp khác nhau từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

II. Các Biến Vĩ Mô Chính Tác Động Đến Lạm Phát

Các biến vĩ mô đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành mức độ lạm phát tại Việt Nam. Theo nghiên cứu từ Học viện Ngân Hàng, những yếu tố như chi tiêu chính phủ, tỷ giá hối đoái, cung tiền (M2), và chênh lệch sản lượng có tác động trực tiếp đến mức giá chung. Giai đoạn 2011-2020, khi GDP tăng từ 6-7% hàng năm, lạm phát cũng tăng đáng kể, đặc biệt vào năm 2011 khi đạt 18%. Sự tương quan giữa các biến kinh tế vĩ mô này giúp giải thích những biến động trong chỉ số giá tiêu dùng. Việc theo dõi chặt chẽ các biến số này là cần thiết để duy trì ổn định kinh tế.

2.1. Chi Tiêu Chính Phủ và Lạm Phát

Chi tiêu chính phủ cao dẫn đến tăng cung tiền (M2) trong nền kinh tế, từ đó tạo áp lực lên lạm phát. Từ 2011-2020, khi chi tiêu công tăng để hỗ trợ phát triển hạ tầng, mức tăng M2 cũng tăng đáng kể. Sự tương quan dương giữa chi tiêu nhà nướcchỉ số giá tiêu dùng rõ ràng trong những năm kinh tế mở rộng.

2.2. Tỷ Giá Hối Đoái và Lạm Phát Nhập Khẩu

Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng mạnh mẽ đến lạm phát tại Việt Nam do tỷ lệ nhập khẩu cao. Khi đồng USD mạnh, giá hàng nhập khẩu tăng, dẫn đến lạm phát nhập khẩu. Giai đoạn 2011-2020, các biến động tỷ giá giữa VND/USD tạo ra sức ép đáng kể lên mức giá tiêu dùng.

2.3. Cung Tiền và Tín Dụng

Mức tăng M2tín dụng là những chỉ báo quan trọng của lạm phát. Khi Ngân hàng Nhà nước tăng cung tiền quá nhanh, điều này tạo ra áp lực tăng giá. Dữ liệu từ 2011-2020 cho thấy tương quan dương giữa mức tăng M2chỉ số CPI.

III. Tình Hình Lạm Phát Tại Việt Nam Giai Đoạn 2011 2020

Giai đoạn 2011-2020 là một thời kỳ biến động lớn cho lạm phát tại Việt Nam. Năm 2011, nước ta chứng kiến lạm phát ở mức kỷ lục 18%, thấp nhất là 2015-2016 ở mức dưới 2%. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) phản ánh sự dao động này theo từng giai đoạn kinh tế. So sánh với các nước ASEAN, Việt Nam có mức lạm phát tương đối cao, đặc biệt vào những năm đầu thập niên 2010. Mặc dù tăng trưởng GDP liên tục ở mức 6-7% hàng năm, mức tăng giá tiêu dùng vẫn tạo ra những thách thức cho Ngân hàng Nhà nước trong việc duy trì ổn định lạm phát. Các năm gần đây, lạm phát đã được kiểm soát tốt hơn nhờ những biện pháp chính sách tiền tệ chặt chẽ.

3.1. Xu Hướng Lạm Phát 2011 2015

Giai đoạn 2011-2015, Việt Nam trải qua lạm phát cao lên đến 18% vào 2011, sau đó giảm dần. Chỉ số CPI tăng mạnh do cung tiền tăng và chi tiêu chính phủ cao. Tuy nhiên, từ 2015 trở đi, lạm phát được kiểm soát tốt hơn, giảm xuống dưới 2% nhờ chính sách tiền tệ thắt chặt từ Ngân hàng Nhà nước.

3.2. Ổn Định Lạm Phát 2016 2020

Từ 2016-2020, mức lạm phát tại Việt Nam ở mức ổn định, dao động từ 2-3% hàng năm. Chỉ số giá tiêu dùng tăng chậm hơn, phù hợp với mục tiêu của Ngân hàng Trung ương. Giai đoạn này cho thấy sự hiệu quả của chính sách tiền tệ trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.

IV. Kiến Nghị Chính Sách Để Duy Trì Ổn Định Lạm Phát

Để duy trì ổn định lạm phátcân bằng vĩ mô tại Việt Nam, cần có những biện pháp chính sách toàn diện. Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục kiểm soát cung tiền (M2) một cách khoa học, tránh tăng quá nhanh gây áp lực lên giá tiêu dùng. Đồng thời, chính phủ cần điều chỉnh chi tiêu công để tránh thâm hụt ngân sách quốc gia quá lớn. Tỷ giá hối đoái cần được ổn định thông qua các chính sách ngoại tệ phù hợp với tình hình kinh tế thế giới. Ngoài ra, cần theo dõi chênh lệch sản lượng tiềm năng để dự báo lạm phát sớm. Những biện pháp này sẽ giúp Việt Nam đạt mục tiêu phát triển bền vững với ổn định kinh tế vĩ mô lâu dài.

4.1. Chính Sách Tiền Tệ Hiệu Quả

Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước cần được thực hiện linh hoạt nhưng vẫn giữ mục tiêu kiểm soát lạm phát trong mục tiêu 3-4% hàng năm. Lãi suất cần được điều chỉnh hợp lý để cân bằng giữa tăng trưởngổn định giá cả. Kiểm soát mức tăng M2 dựa trên tăng trưởng GDP là cần thiết.

4.2. Quản Lý Tỷ Giá Hối Đoái

Cần có chính sách quản lý tỷ giá hợp lý để tránh biến động lớn gây áp lực lên lạm phát nhập khẩu. Tỷ giá hối đoái nên được cho phép dao động trong khoảng hợp lý để phản ánh cân cân thương mại của đất nước. Dự trữ ngoại tệ cần được duy trì ở mức đủ để can thiệp thị trường khi cần.

4.3. Kiểm Soát Chi Tiêu Công

Chi tiêu chính phủ cần được lập kế hoạch khoa học để tránh thâm hụt ngân sách quá lớn gây áp lực lên lạm phát. Tỷ lệ chi tiêu công trên GDP nên được duy trì ở mức bền vững. Nên ưu tiên chi tiêu đầu tư trên chi tiêu thường xuyên để tối ưu hoá tăng trưởng mà không tạo áp lực lên giá cả.

28/12/2025
Mối quan hệ giữa lạm phát và các biến vĩ mô tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT 1. Khái niệm lạm phát Đối với nhiều nhà kinh tế học, họ chấp nhận định nghĩa rằng lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức gía chung. Tuy vậy, vẫn có một số ý kiến không đồng tình bởi họ tin rằng “lạm phát là sự phát hành tiền quá mức vì vậy chỉ gọi là lạm phát khi mà mức giá chung tăng bởi do tăng cung tiền” hoặc “lạm phát là quá nhiều tiền được bỏ ra để săn lùng quá ít hàng hoá”, hay rõ hơn “lạm phát là hiện tượng bội chi lâu dài của ngân sách nhà nước”. Như vậy, lạm phát có thể hiểu là sự giảm sút sức mua của tiền tệ và đồng thời thước đo của nó chính là sự gia tăng của mức giá chung trong nền kinh tế, tương tự theo cách nói của Milton Friedman (1970) “lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ”.

Lạm phát được sinh ra với nhiều lý do, với những người theo thuyết cầu kéo - chi phí đẩy, tổng cung giảm hoặc tổng cầu tăng sẽ làm cho mức giá chung tăng. Tổng cung giảm có thể do nhiều nguyên nhân như bất lợi về công nghệ hoặc là giá của các yếu tố sản xuất tăng. Tuy vậy, tổng cung giảm không phải là nguyên nhân thực sự của việc tăng giá liên tục mà chính là việc Ngân hàng Trung ương liên tục tăng lượng tiền. Bên cạnh, tiêu dùng chính phủ tăng, giảm thuế phí, tăng cung tiền có thể khiến tổng cầu tăng, nhưng những hành động này của chính phủ có hạn nên nó không gây ra sự tăng giá liên tục mà là do phát hành tiền liên tục để giảm thâm hụt ngân sách.

Đo lường Lạm phát Lạm phát được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát hay còn được hiểu chính là suất tăng của mức giá chung theo thời gian. Vậy mức giá chung được tính toán ra sao? Có hai thước đo dùng để phản ánh mức giá chung là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số điều chỉnh GDP (GDP deflator). CPI là một tỷ số phản ánh giá của rổ hàng hoá trong nhiều năm khác nhau so với giá của cùng rổ hàng hoá đó tại năm dùng làm gốc. Nó phụ thuộc vào 2 yếu tố gồm năm được chọn làm gốc và sự lựa chọn các loại hàng hóa có trong rổ.

Chỉ số này có nhược điểm lớn nhất là mức độ bao phủ cũng như sử dụng trọng số cố định trong tính toán. Mức độ bao phủ của chỉ số giá này như đã nói ở trên, nó chỉ giới hạn trong một số hàng hoá tiêu dùng và trọng số cố định dựa vào tỷ trọng 5 chi tiêu của người dân thành thị đối với một số hàng hoá cơ bản được mua vào năm gốc. Do đó, chỉ số này khi dùng để phản ánh giá cả sinh hoạt sẽ không thể phản ánh được sự biến động giá hàng hoá và sự biến đổi trong cơ cấu hàng hoá tiêu dùng cũng như sự thay đổi trong phân bổ chi tiêu của người dân cho những hàng hoá khác nhau theo thời gian. Loại chỉ số có mức bao phủ rộng nhất là chỉ số điều chỉnh GDP.

Nó bao gồm tất cả hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế và trọng số tính toán được điều chỉnh phụ thuộc vào mức đóng góp tương ứng của mỗi loại hàng hoá và dịch vụ vào giá trị gia tăng. Ở khía cạnh khác, để tính toán tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế không thể không dùng đến nó bởi nó là chỉ số đại diện tương đối tốt. Tuy vậy, nhược điểm của nó là không phản ánh trực tiếp được sự biến động của giá hàng nước ngoài, biến động tỷ giá hối đoái, sự thay đổi của chất lượng hàng hoá khi tính toán tỷ lệ lạm phát và sự biến động giá cả trong từng tháng. Việt nam trong những năm hội nhập và phát triển thường sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để tính tỷ lệ lạm phát và điều hành chính sách tiền tệ.

Bên cạnh các nhược điểm ở trên, chỉ số này không phản ánh được tình hình lạm phát khi nó dao động thường xuyên. Các loại lạm phát  Lạm phát vừa phải Lạm phát vừa phải xảy ra khi tốc độ tăng giá chậm ở mức một con số. Hiện tại trên thế giưới ở phần lớn các nước phát triển, lạm phát chủ yếu là lạm phát này với con số tùy thuộc vào tình trạng phát triển của nền kinh tế và mục tiêu CSTT trong từng thời kỳ. Trong điều kiện này, giá cả tăng chậm thường xấp xỉ bằng mức tăng lương hoặc cao hơn ít do đó tạo điều kiện để kinh tế phát triển.

 Lạm phát phi mã Lạm phát này chỉ xảy ra khi giá cả tăng bắt đầu ở mức hai đến ba con số và nó kéo dài trong suốt thập kỉ. Việt Nam cũng từng ở trong thời kì này vào những năm 80. Sự kiểm nghiệm thực tế này cho biết nguyên nhân cuối cùng của nó là do sự tăng lên của lượng tiền trong lưu thông. Khi giá hàng hóa tăng mạnh, giả trị tiền tệ giảm mạnh dẫn đến dân chúng không dám giữ tiền mặt và chuyển sang tích trữ vàng và đầu cơ hàng hóa.

Trong thời kỳ này, sản xuất đình trệ, hệ thống tài chính lụi tàn. 6  Siêu lạm phát Nó chỉ xảy ra khi tốc độ tăng giá còn vượt cả mức lạm phát phi mã, nó tăng lên tới hàng nghìn tỷ lần, có thể nhắc tới như cuộc siêu lạm phát điển hình trong lịch sử ở Đức 1921-1923, ở Nga sau cách mạng tháng Mười, v. Nó sẽ phá hủy hoàn toàn các hoạt động của nền kinh tế và kéo theo đó là suy thoái kinh tế một cách nghiêm trọng. Nó chỉ xảy ra khi có biến cố lớn đảo lộn trật tự xã hội và sự phát hành vô cùng tiền giấy nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước.

Khung lý thuyết về lạm phát 1. Lạm phát do cầu kéo Trường phái này cho rằng lạm phát phát sinh do dư thừa nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ khi tổng cầu trong nền kinh tế vượt tổng cung, do đó giá bị ép lên, gây ra lạm phát. Tổng cầu được tạo thành từ tất cả các chi tiêu trong nền kinh tế được thể hiển dưới phương trình AD = C + I + G + (X-M) Với: C là viết tắt của chi tiêu tiêu dùng. I là viết tắt của đầu tư.

G là viết tắt của chi tiêu chính phủ. X và M tương ứng là đại diện cho xuất khẩu và nhập khẩu. Nguyên nhân của sự gia tăng tổng cầu có thể đến từ nhiều nguyên nhân khác như giảm thuế trực thu hoặc thuế gián thu. Nếu thuế giảm, người tiêu dùng sẽ có thu nhập khả dụng nhiều hơn gây ra nhu cầu tăng cao.

Cung tiền tăng nhanh do kết quả của tín dụng tăng là nguyên nhân làm tăng tổng cầu. Khi niềm tin của người tiêu dùng trỗi dạy sẽ dẫn đến sự gia tăng tổng nhu cầu của hộ gia đình đối với hàng hóa và dịch vụ. Tăng trưởng kinh tế của nước ngoài là động lực thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ của quốc gia sang nước khác. Doanh số xuất khẩu cung cấp dòng thu nhập và chi tiêu bổ sung vào dòng luân chuyển trong nước.

Vì lẽ đó, xuất khẩu là cũng là một phần của tổng cầu. Với sự giảm giá của tỷ giá hối đoái làm tăng giá nhập khẩu và giảm giá hàng xuất khẩu vào nước ngoài khiến người tiêu dung trong nước ít mua hàng nhập 7 khẩu hơn, trong khi người nước ngoài mua nhiều hàng xuất khẩu hơn vì lợi thế giá cạnh tranh. Nó giúp nhu cầu trong nền kinh tế trong nước sẽ tăng lên. Nếu nền kinh tế đã tạo đủ việc làm, khó có thể tăng sản lượng góp phần đẩy giá cả lên cao.

Bất kể từ nguyên nhân nào, nó sẽ gây ra lạm phát nếu nhu cầu tăng nhanh hơn cung. Lập luận của Keynes Theo Keynesian, nếu có một cú sốc nào đó làm tăng tổng cầu, các công ty sẽ tăng sản xuất dẫn tới phải sử dụng nhiều lao động hơn giúp nhiều người có việc và sản xuất nhiều sản lượng hơn để đáp ứng nhu cầu gia tăng. Nếu có bất kỳ gián đoạn nào trong sản xuất, mức tăng sản lượng cuối cùng ít đi làm cho mức giá tăng lên. Đầu tiên, cầu kéo sinh ra lạm phát, sau đó duy trì chi phí đẩy lạm phát.

Lúc đầu, tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm xuống, chuyển ADk thành ADi, làm tăng Y bởi (Yi- Yk). Sự gia tăng nhu cầu này có nghĩa là cần nhiều công nhân hơn, sau đó ADk sẽ được chuyển từ ADi sang ADn, nhưng lần này được tạo ra ít thay đổi hơn so với lần trước, nhưng ngược lại mức giá đã tăng từ Pi lên Pn tăng cao hơn so với trước. Mức tăng giá này là gọi là lạm phát. Trong khi các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes nhìn vào năng lực sản xuất, ngược lại, người theo trường phái cổ điển xem xét sự thay đổi của tổng cung tiền phục vụ cho giao dịch như một nguồn gây ra lạm phát.

Họ cho rằng do cung tiền tăng nhanh hơn khả năng cung cấp hàng hóa của nền kinh tế. 8 Hình 1: Mô hình AD- AS (Nguồn: courses.lumenlearning) Đường cong Phillips Đường cong Phillips ban đầu, dựa trên các bằng chứng thực nghiệm, tuyên bố mối quan hệ giữa thất nghiệp và lạm phát có thể thay thế nhau. Đường cong dốc xuống từ trái sang phải và dường như làm cho các nhà hoạch định chính sách chỉ có một sự lựa chọn đơn giản là lạm phát hoặc thất nghiệp. Vì vậy, bất kỳ nỗ lực nào của các chính phủ nhằm giảm thất nghiệp đều có khả năng khiến lạm phát gia tăng.

Không có sự lựa chọn khác như hạ thấp cả hai. Vào những năm 1970, đường cong dường như bị phá vỡ khi nền kinh tế bị thất nghiệp và lạm phát cùng tăng (lạm phát đình trệ). Vì thế hầu hết các nhà kinh tế học không còn sử dụng đường cong Phillips ở dạng ban đầu bởi nó quá đơn giản. Nhưng với các dạng sửa đổi của đường cong Philip, nó có tính đến kỳ vọng lạm phát vẫn có ảnh hưởng.

Họ phân biệt giữa dài hạn và ngắn hạn. "Đường cong Phillips ngắn hạn" trông giống như một Đường cong Phillips bình thường, nhưng bị dịch chuyển về lâu dài khi kỳ vọng thay đổi. Về lâu dài, chỉ có một tỷ lệ thất 9 nghiệp phù hợp với mức ổn định tỷ lệ lạm phát. “Đường cong Phillips dài hạn” nằm theo chiều dọc, vì vậy không có đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ