chương 1. THỰC TRẠNG KĨ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI. Tổ chức nghiên cứu thực trạng. Mục tiêu nghiên cứu.
Nội dung nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Vài nét về cơ sở nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu thực trạng.
Thực trạng hình thành KNTPV của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến KNTPV của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Nguyên nhân thực trạng KNTPV của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Đề xuất một số giải pháp nâng cao kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
Đề xuất một số giải pháp nâng cao kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Khảo sát các giải pháp. 99 Tiểu kết chương 2. 103 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM.
105 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 108 PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ĐTB Điểm trung bình GVMN Giáo viên mầm non KNS Kĩ năng sống KNTPV Kĩ năng tự phục vụ MNMK Mầm non Minh Khai MNPA Mầm non Phú An DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2. Bảng mô tả mức độ thường xuyên KNTPV của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. So sánh mức độ thực hiện thường xuyên KNTPV của 2 trường mầm non.
So sánh mức độ thường xuyên KNTPV của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi giữa 2 giới tính nam và nữ. Bảng mô tả kết quả quan sát mức độ thành thạo KNTPV. Bảng kết quả đánh giá của Phụ Huynh mức độ thành thạo KNTPV của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. So sánh mức độ thành thạo KNTPV của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi giữa ở trường mầm non và ở nhà.
So sánh mức độ thành thạo KNTPV của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi giữa ở trường MNPA và trường MNMK. So sánh sự khác biệt về mức độ thực hiện thành thạo KNTPV của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi giữa nam và nữ. Tương quan giữa mức độ thường xuyên và mức độ thành thạo đối với KNTPV của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Thực trạng mức độ các yếu tố ảnh hưởng đến KNTPV của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
Nguyên nhân thực trạng KNTPV của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Mô tả mức độ cần thiết của các giải pháp. Mô tả mức độ khả thi của giải pháp. Lí do chọn đề tài Nhà giáo dục Maria Montessori từng nói: “Trong mỗi đứa trẻ đều có những tài năng tiềm ẩn.
Sự chuẩn bị kĩ càng từ lúc đầu đời chính là chìa khóa thành công cho tương lai mỗi cháu” (Trương Thị Hoa Bích Dung, 2012). Nối tiếp ý nghĩa đó, mục tiêu của Giáo dục Mầm non đề cập “Giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát huy tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời” (Chương trình Giáo dục Mầm non, 2016). Hơn nữa, Bộ Chuẩn Phát Triển Trẻ Em 5 tuổi đã quy định rõ về những điều mong đợi ở các chuẩn vệ sinh, dinh dưỡng và an toàn cá nhân của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010). Cụ thể hơn, mục tiêu của nội dung giáo giáo dục trẻ mẫu giáo về dinh dưỡng và sức khỏe: “Nhận biết một số món ăn, thực phẩm thông thường và lợi ích của chúng đối với sức khỏe; thực hiện được một số việc tự phục vụ; có hành vi và thói quen tốt trong sinh hoạt và giữ gìn sức khỏe; biết một số nguy cơ không an toàn và phòng tránh” (Chương trình Giáo dục Mầm non, 2016).
Từ những đề cập trên, cho thấy rằng các lực lượng giáo dục đã có sự quan tâm sâu sắc đến việc phát triển toàn diện của trẻ mẫu giáo. Từ việc phát triển những tư chất của nhân cách đến việc phát triển những kĩ năng sống cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển một tâm hồn lành mạnh bên trong một cơ thể khỏe mạnh. Dù tiếp cận vấn đề dưới nhiều góc độ không giống nhau nhưng các tác giả đều đưa ra quan điểm giống nhau, đó là lứa tuổi mầm non là độ tuổi vô cùng quan trọng để có thể lĩnh hội và thực hành các kĩ năng sống cần thiết trong đó có kĩ năng tự phục vụ. Việc giáo dục trẻ mầm non biết cách tự phục vụ cho bản thân không chỉ tạo điều kiện để giúp trẻ dễ dàng hòa đồng với bạn bè, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với những người xung quanh và tự tin trong cuộc sống, mà còn trang bị cho trẻ hệ thống những kiến thức cần thiết giúp cho trẻ có cái nhìn về tầm quan trọng của việc phải tự biết giá trị chăm sóc, giá trị bảo vệ sức khỏe cho mình và thực hành giá trị ấy trong 2 cuộc sống hằng ngày - đây là yếu tố quan trọng giúp trẻ tồn tại và trưởng thành.
Kĩ năng tự phục của trẻ không tự nhiên mà có, cũng không thể tự phát triển mà kĩ năng tự phục được hình hình thành trong những hoàn cảnh cụ thể, dưới sự hướng dẫn và củng cố của người lớn. Vì vậy, người lớn cần giúp trẻ trong việc hình thành và phát triển kĩ năng tự phục vụ. Tài liệu tập huấn Module 39 ra đời đã giúp cho đội ngũ Giáo Viên nắm bắt được tằm quan trọng và cách thức giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non. Tiếp theo là sách Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, trong đó tác giả Lê Bích Ngọc đã đề cập đến “nhóm kĩ năng tự phục bao gồm: kĩ năng ăn uống, kĩ năng vệ sinh cá nhân, kĩ năng tự bảo vệ sức khỏe, kĩ năng tự phòng chống các tai nạn thông thường”.
Đây được coi như là những tài liệu chính thống đầu tiên giúp cho việc giáo dục kĩ năng sống của trẻ mầm non được hệ thống và hiệu quả hơn (Lê Bích Ngọc, 2010). Kĩ năng tự phục vụ như những nhịp cầu giúp trẻ biến những tri thức của nhân loại thành giá trị, thái độ, hành vi đúng mực và thói quen lành mạnh cho riêng mình. Kĩ năng tự phục vụ giúp trẻ thích ứng và hòa nhập với cuộc sống xung quanh, giúp trẻ tự chăm sóc và bảo vệ bản thân, giúp bản thân tránh khỏi những nguy hiểm. Kĩ năng tự phục vụ giúp trẻ hình thành những những nét tính cách đầu tiên, làm nền tảng cho sự hình thành nhân cách của trẻ.
Thiếu kĩ năng tự phục vụ sẽ dẫn đến việc trẻ dễ thụ động, ỷ lại, dựa dẫm vào người khác, thiếu tự tin, trẻ rất khó giải quyết các tình huống trong cuộc sống hằng ngày đặc biệt là những nguy hiểm luôn rình rập xung quanh trẻ. Giai đoạn trẻ 5 – 6 tuổi là một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của mỗi đứa trẻ. Đây là giai đoạn trẻ chuẩn bị bước vào trường phổ thông, chính thức trở thành một học sinh thực thụ, đó là “sự chuyển qua một lối sống mới, với những điều kiện hoạt động mới, chuyển qua một địa vị mới trong xã hội, chuyển qua những quan hệ mới với người lớn và bạn bè cùng tuổi” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006). Chính vì thế, việc chuẩn bị tốt những kĩ năng sống nói chung và kĩ năng tự phục vụ nói riêng sẽ giúp trẻ chuẩn bị tâm lí sẵn sàng vào lớp một.
Có thể kể đến vài tác giả nghiên cứu về vấn đề kĩ năng sống như: tác giả Huỳnh Văn Sơn viết quyển sách Nhập môn kĩ năng sống, tác giả Nguyễn Thanh Bình với 3 Giáo trình chuyên đề kĩ năng sống. Những công trình nghiên cứu về vấn đề này cũng còn hạn chế. Chẳng hạn như: tác giả Mai Hiền Lê khảo sát về Kĩ năng sống của trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Thực Hành TP. Hồ Chí Minh; tác giả Cao Văn Quang khảo sát về Kĩ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại TP.
Hồ Chí Minh; tác giả Đỗ Thị Bắc khảo sát về Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé ở trường mầm non thành phố Thái Nguyên và một vài đề tài luận văn thạc sĩ tâm lý khác nghiên cứu về kĩ năng biểu hiện tình cảm, kĩ năng thể hiện cảm xúc. Tuy đã bước đầu nghiên cứu về kĩ năng sống của trẻ mầm non nhưng các đề tài chỉ tập trung trong phạm vi ở thành phố Hồ Chí Minh hoặc thành phố lớn. Đặc biệt là việc nghiên cứu về kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở những vùng sâu vùng quê đang bị bỏ ngõ. Tân Phú là một huyện miền núi của tỉnh Đồng Nai, là một trong những huyện vùng sâu vùng xa nhất của tỉnh vì thế nên điều kiện kinh tế, xã hội còn gặp nhiều khó khăn.
Huyện Tân Phú có nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, người dân ở đây rất vất vả vì phải mưu sinh hằng ngày nên ít có thời gian chăm sóc nhiều đến trẻ và vì thế trẻ cần được trang bị kĩ năng tự phục vụ cho bản thân. Đây là một trong những yếu tố giúp trẻ thích nghi với cuộc sống và đặc biệt là giúp hình thành những nét tính cách tích cực, những thói quen lành mạnh đầu tiên của cuộc đời. Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: “Kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai” được tiến hành nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu Khảo sát thực trạng kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai.
Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giúp trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi duy trì và nâng cao kĩ năng tự phục vụ. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tổng hợp, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận có liên quan đến Kĩ năng tự phục vụ của trẻ 5 – 6 tuổi. 4 - Khảo sát thực trạng Kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai. Trên cơ sở lí luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp nhằm giúp duy trì và nâng cao kĩ năng tự phục vụ.