Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TỰ HỌC CỦA HỌC VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUÂN SỰ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Quan điẻm của tâm lý học phương Tây về tự học và kỹ năng tự học Nghiên cứu về tự học. Ở phương tây các nhà khoa học cũng rất quan tâm nghiên cứu về tự học.
Dựa trên những thành tựu lý luận cơ bản của Tâm lý học hành vi và tâm lý học trí tuệ, xem xét con người với tư cách là “con người cá thể”, mà sự phát triển tâm lý của nó trước hết phải tuân theo các quy luật đặc biệt từng cá thể. Dựa trên cơ sở tâm lý đó, các nhà khoa học tiêu biểu như: E.đã tìm ra phương pháp dạy học nhằm khai thác và phát huy tốt nhất “cái cá thể” trong người học. Có thể khái lược một số kết quả theo các hướng sau: Vào đầu thế kỷ XX ở Pháp đã có các nghiên cứu và khẳng định vai trò của tự học trong quá trình dạy học, như: F. Theo họ, trung tâm của nhà trường không phải là người thầy mà là học trò, không phải chỉ có thầy giảng dạy mà trò phải tự học, tự nâng cao tri thức cho bản thân với sự giúp đỡ của thầy giáo.
Ở Mỹ ngay từ năm 1920 các nghiên cứu đã đưa ra phương pháp giáo dục dựa trên việc phát huy vai trò tự học của học sinh, nổi bật: J.Theo quan niệm này toàn bộ hoạt động học của người học là do họ tự thực hiện theo những công việc mà giáo viên giao. Với cách dạy như vậy người học được chủ động bộc lộ khả năng hoạt động của bản thân. Tuy nhiên quan niệm này cũng bị phê phán là làm cho người học chỉ quan tâm cố gắng hoàn thành công việc được giao mà hạn chế tính sáng tạo, không tạo được sự phát triển nhân cách người học. Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, khoa học giáo dục có những tiến bộ đáng kể, nghiên cứu về tự học tiếp tục được thực hiện ở mức độ cao hơn.
Quá trình dạy người học tự học được đề cao, bên cạnh đó vai trò của người thầy và các điều kiện bảo đảm cho người học một môi trường sư phạm tối ưu cũng được khẳng định. Tư tưởng này đã kích thích sự nỗ lực, tạo nên một loạt phương pháp dạy học mới, làm phong phú lý luận thực tiễn của khoa học giáo dục nhiều nước trên thế giới. Có thể nói ở phương Tây, dựa trên thành tựu nghiên cứu cá thể trong hoạt động của các dòng Tâm lý học hành vi và Tâm lý học trí tuệ, một số nhà khoa học đã đi đến khẳng định vai trò của tự học trong học tập của mỗi cá nhân ở các mức độ khác nhau. Nghiên cứu về kỹ năng tự học.
Các nhà TLH phương tây nghiên cứu rất kỹ về kỹ năng, kỹ xảo. Họ rất coi trọng mặt kỹ thuật của hoạt động và chỉ nghiên cứu cấp độ hành động, vì thế họ quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu kỹ năng, kỹ xảo. Họ cho rằng, các thao tác, nghề nghiệp đạt tới mức độ thành thạo cao là kết quả của sự rèn luyện công phu và có phương pháp. Một số nhà TLH quan tâm nghiên cứu sự hình thành kỹ năng trong dạy học như: Anderson, Shuell, Brow, Weinert, Helmke.
ANDERSON (1982), dựa theo Fitts và Posner (1967), đã phân biệt ba giai đoạn hình thành kỹ năng là: Nhận thức, liên tưởng và tự lập. Các tác giả cho rằng: ở giai đoạn nhận thức, con người phải “hiểu thật rõ nhiệm vụ” xác định 8 được nội dung cần đạt được làm cơ sở để thu nhận và sử lý thông tin; ở giai đoạn liên tưởng diễn ra sự hình thành các “thành phần kỹ năng riêng lẻ”; ở giai đoạn tự lập, kỹ năng ngày càng được tự động hoá nhiều hơn [dẫn theo 16, tr. Shull (1990) thì đưa ra kết luận là việc học tập, nhận thức của con người là một quá trình chủ động, tạo lập và tích luỹ. Ông cho rằng “ngay ở giai đoạn đầu của việc học tập, người học đã phải đối mặt với một số lớn các sự kiện và thông tin riêng lẻ quan trọng” [dẫn theo16, tr.
Do vậy, ngay từ đầu, người học đã phải chủ động cố gắng làm những gì có thể làm được: Học, giải thích thông tin mới, khảo sát và “có những sai lầm bổ ích”. Shull xác định: ở giai đoạn trung gian, người học có thể “sử dụng những thông tin mới tiếp nhận để tự giải quyết những vấn đề đơn giản” [dẫn theo16, tr. Nghĩa là, người học có thể “học qua làm”. ở giai đoạn cuối, Shull cho đó là giai đoạn học tập tích luỹ.
Giai đoạn này kiến thức thu nhận được của người học đã có tính chất hệ thống. Do đó, “ các kỹ năng thu được qua tự động hoá và luyện tập thay đổi đã nâng cao khả năng hoạt động, còn các thành phần siêu nhận thức tới lúc đó không chỉ tồn tại mà còn có thể sử dụng được”. [dẫn theo 16, tr. Các tác giả Brow (1994), Weinet và Helmke (1995) cho rằng: “Tính hiệu quả (của việc học tập) hầu như phụ thuộc vào người học và sự khác biệt cá nhân của họ” [52, tr.
Theo họ, việc học tập rèn luyện của người học bị phụ thuộc vào những điều kiện như: Nguồn tri thức vốn có; tạo tình huống học tập, rèn luyện; làm xuất hiện, phát huy yếu tố chủ động, tự giác, tích cực trong học tập, rèn luyện. Như vậy quan điểm của các nhà tâm lý học phương Tây đã đề cập đến hình thành kỹ năng trong dạy học nhưng các tác giả chủ yếu xem xét kỹ năng ở góc độ kỹ thuật thuần tuý, chưa đề cập đến các yếu tố HTKNTH. Quan điểm của các nhà Tâm lý học Mác-xít về tự học và kỹ năng tự học. 9 Nghiên cứu về tự học.
Hoạt động học là phương thức để con người tiếp thu tri thức, hành vi trong cuộc sống. Việc học giúp cá nhân lĩnh hội tri thức đã được tích luỹ trong quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt cộng đồng. Việc lĩnh hội tri thức của mỗi người chỉ đạt được kết quả cao khi họ tự học. Do vậy, nghiên cứu về tự học có giá trị nhất định trong việc thúc đẩy con người tích luỹ kinh nghiệm, tri thức khoa học để nâng cao năng lực nhận thức thế giới khách quan.
Vấn đề tự học đã được nhiều tác giả nghiên cứu.Rubakin trong tác phẩm: “Tự học như thế nào” đã nhấn mạnh vai trò của thái độ tích cực tự học trong việc chiếm lĩnh tri thức của học sinh. Theo ông để tự học đạt kết quả thì: “việc giáo dục động cơ đúng đắn là điều kiện cơ bản để học sinh tích cực, chủ động trong tự học”[40, tr. Điều này chứng tỏ N.Rubakin đã thấy rõ vai trò của yếu tố động cơ trong hoạt động tự học của học sinh. Như vậy, muốn học tập có kết quả đòi hỏi phải giáo dục cho người học động cơ đúng trong tự học.
Song thực tế có động cơ đúng nhưng người học thiếu kỹ năng thực hiện thì hoạt động thì tự học vẫn không đạt kết quả.Khalamôv trong cuốn “Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào”? [22, tr.64] đã khẳng định: Tự học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao tính tích cực nhận thức và hiệu quả hoạt động trí tuệ của học sinh.Lêvitôv đã chỉ ra một số thành phần tâm lý cơ bản của sự lĩnh hội, các thành phần này có mối quan hệ qua lại với nhau trong tâm lý của người học, nếu thiếu sự tự giác, tích cực thì học tập của học sinh sẽ không đạt yêu cầu đào tạo. Tức là trong học tập người học phải tự học, tự giác, tích cực chiếm lĩnh tri thức cho bản thân. Những thành phần tâm lý của sự lĩnh hội bao gồm: Thái độ tích cực của học sinh đối với công việc tự học; các quá trình tìm hiểu tài liệu một cách trực tiếp và cảm tính; quá trình tư duy với tư cách là quá trình cải biến tài liệu; quá trình ghi nhớ, bảo tồn thông tin.Petrôvxki trong cuốn “Tâm lý học lứa tuổi và sư phạm” [37, tr.55] đã nghiên cứu những mức độ của hoạt động học như: mức độ nhận thức của việc học, mức độ trí tuệ của việc học, tính chất nhiều mức độ của việc học. Từ những mức độ của việc học cho thấy hoạt động học đòi hỏi phải có tính tự giác độc lập cao, để hoạt động học đạt kết quả thì học sinh phải tự học.
Vấn đề tự học còn được R.Retxke - người Đức bàn đến trong cuốn “Học tập hợp lý”. Tác giả cho rằng: Học tập ở đại học là một quá trình phát triển của con người, quá trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong các yếu tố đó thì yếu tố bên trong đóng vai trò quyết định đến kết quả tự học. Việc hoàn thành có kết quả những nhiệm vụ tự học đặt ra đòi hỏi người học phải đấu tranh với bản thân một cách có phê phán và phải sáng tạo trong quá trình tự học.Đôblaev trong cuốn “Những khía cạnh tâm lý của việc đọc sách” [11, tr.Primacecovxki trong cuốn “Phương pháp đọc sách” đã phân tích những cơ sở khoa học tâm lý, những điều kiện ảnh hưởng tối ưu đến quá trình đọc sách.
Các tác giả đã phân tích được một số yếu tố tâm lý cơ bản đảm bảo cho quá trình đọc sách đạt kết quả cao. Theo họ phương pháp đọc sách là một trong những yếu tố quan trọng của tự học ở người học.Êxipôv [38] nghiên cứu công tác tự học của học sinh ngoài giờ lên lớp cho rằng: Tự học là việc học của học sinh tiến hành khi không có sự tham gia hướng dẫn trực tiếp của GV. Trong đó người học phải vươn tới mục đích đã đề ra. Trong nghiên cứu của mình tác giả cũng đưa ra phương hướng để kích thích hoạt động tự học cho học sinh đó là: Trong quá trình dạy học GV có thể 11 nêu lên hàng loạt vấn đề và yêu cầu học sinh hoàn thành trong một thời gian xác định.
Nhưng cách thức hướng dẫn người học tự học thì tác giả chưa đề cập tới. Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên cho thấy các nhà khoa học Đông Âu và Xô Viết (trước đây) đã xem xét tự học một cách toàn diện như: vai trò của tự học, KNTH, những biện pháp tổ chức hoạt động dạy học nhằm nâng cao hiệu quả tự học của người học. Việc tự học được các tác giả xem xét trong mối quan hệ với hoạt động dạy của quá trình dạy học.