phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Một số vấn đề chung về kỹ năng giải quyết tranh chấp dân sự bằng hòa giải. Giải quyết tranh chấp dân sự bằng hòa giải theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và một số kỹ năng hòa giải của Thẩm phán. Thực tiễn áp dụng kỹ năng giải quyết tranh chấp dân sự bằng hòa giải và một số kiến nghị.
5 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ BẰNG HÒA GIẢI 1. Các khái niệm liên quan đ ến kỹ năng giải quyết tranh chấp dân sự bằng hòa giải 1. Khái niệm tranh chấp dân sự Các chủ thể khi tham gia vào quan hệ xã hội không phải lúc nào cũng có chung quan điểm về các vấn đề trong quan hệ pháp luật, vì thế sẽ dẫn đến những bất đồng ý kiến, những mâu thuẫn nhất định. Hiện tƣợng đó đƣợc thể hiện bằng những hành động cụ thể và ngƣời ta gọi đó là sự tranh chấp.
Thuật ngữ “tranh chấp” nói chung đƣợc hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan. Những bất đồng, mâu thuẫn này có thể phát sinh từ những quan hệ xã hội do nhiều ngành luật điều chỉnh nên chúng đƣợc gọi theo ngành luật đó. Tranh chấp dân sự là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự. Quan hê ̣ pháp luâ ̣t dân sƣ̣ đƣơ ̣c hiể u là quan h ệ xã hội đƣợc các quy phạm dân sự điều chỉnh trong đó các bên tham gia độc lập về tổ chức và tài sản, bình đẳng về địa vị pháp lý quyền và nghĩa vụ các bên đƣợc nhà nƣớc bảo đảm thông qua các biện pháp cƣỡng chế.
Ở một góc nhìn khác, tranh chấp dân sự là tranh chấp giữa các chủ thể khi tham gia các mối quan hệ dân sự với nhau, chịu sự điều chỉnh của Luật dân sự. Phổ biến có các loại tranh chấp dân sự sau: tranh chấp về quyền sở hữu, về hợp đồng dân sự, bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng, các yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố chết… Từ những phân tích trên, có thể hiểu tranh chấ p dân sƣ̣ là sƣ̣ mâu thuẫn giƣ̃a các chủ thể khi tham gia vào quan hê ̣ pháp luâ ̣t dân sƣ̣ , đƣợc điều chỉnh bởi pháp luâ ̣t dân sƣ̣ và pháp luật Tố tụng dân sự. Khái niệm giải quyết tranh chấp dân sự bằng hòa giải Giải quyết tranh chấp theo Từ điển Tiếng việt (1992) có nghĩa là làm cho các xung đột, bất đồng không còn thành vấn đề nữa. Thông thƣờng khi 6 xảy ra tranh chấp , các chủ thể có thể lựa chọn, sử dụng một hoặc một số phƣơng pháp phù hợp để giải quyết tranh chấp của mình.
Và hòa giải là một biện pháp truyền thống để giải quyết các tranh chấp trong đời sống xã hội. Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về hòa giải: Theo từ điển Black’s Law, hòa giải là việc GQTC thông qua ngƣời trung gian hòa giải (bên trung lập). Hòa giải là một quá trình mà bên thứ ba tạo điều kiện và phối hợp để các bên thƣơng lƣợng với nhau. Theo cuốn Black’s Law Dictionary: “Hòa giải (conciliation) là sự can thiệp, sự làm trung gian hòa giải; hành vi của ngƣời thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục họ dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp (GQTC) giữa họ.
Việc GQTC thông qua ngƣời trung gian hòa giải (bên trung lập)”. Theo quan điể m này , hòa giải là một phƣơng thức GQTC với sự giúp đỡ của một bên thứ ba trung lập, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết các tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội. Một định nghĩa khác của hòa giải trong cuốn “Trung gian hòa giải các vụ kiện về thiếu trách nhiệm trong y tế: một giải pháp cho tương lai” là “việc GQTC giữa hai bên thông qua sự can thiệp của bên thứ ba, hoạt động một cách trung lập và khuyến khích các bên xóa bớt sự khác biệt” Trong từ điển pháp lý của Rothenberg, hòa giải đƣợc hiểu là “hành vi thỏa hiệp giữa các bên sau khi có tranh chấp, mỗi bên nhƣợng bộ một ít”. Định nghĩa này đã nêu ra đƣợc bản chất của hòa giải, tuy nhiên nó lại chƣa nêu đƣợc hành vi, vai trò của bên thứ ba trong hòa giải nhƣ khái niệm hòa giải trong từ điển Black’s Law.
Theo Từ điển tiếng Việt, “hòa giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột, xích mích một cách ôn hoà”. Khái niệm này đã đề cập đến hành động và mục đích của hòa giải nhƣng lại chƣa nêu đƣợc các yếu tố nhƣ bản chất, nội dung và chủ thể của hòa giải. Dƣới góc độ thủ tục tố tụng, nếu xét theo nghĩa rộng thì hòa giải không những chỉ là một thủ tục tố tụng bắt buộc do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành 7 trƣớc khi có quyết định giải quyết vụ việc mà còn bao hàm cả việc các bên đƣơng sự tự hòa giải với nhau về các vấn đề cần giải quyết trong vụ việc dân sự và yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận đó. Nếu xét theo nghĩa hẹp thì hòa giải trong TTDS là một thủ tục tố tụng bắt buộc do Tòa án tiến hành trƣớc khi quyết định đƣa vụ việc ra giải quyết bằng một phiên tòa xét xử hoặc một phiên họp theo quy định của pháp luật.
Theo đó, hòa giải là một thủ tục do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các bên đƣơng sự hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật và hƣớng dẫn động viên các đƣơng sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật. Dựa trên những quan điểm trên, có thể rút ra một số đặc điểm của hòa giải: Thứ nhất, hòa giải là một nguyên tắc cơ b ản trong quá triǹ h giải quyế t vụ án dân sự , đƣơ ̣c quy đinh ̣ ta ̣i Điề u 10 BLTTDS năm 2015. Theo đó , hòa giải là trách nhiệm của Tòa án nhằm giúp đỡ đƣơng sự thỏa thuận với nhau. Thứ hai, hòa giải là hoạt động do Tòa án tiến hà nh nhằm giải quyết vụ việc dân sự một cách có hiệu quả nhất.
Với tƣ cách cơ quan xét xƣ̉ của Nhà nƣớc, tòa án phải chủ động trong việc hòa giải để giúp đỡ các đƣơng sự thỏa thuâ ̣n với nhau. Điề u này đƣơ ̣c thể hiê ̣n qua viê ̣c, sau khi thu ̣ lý vu ̣ án, tòa án chủ động triệu tập các đƣơng sự đến để hòa giải ; khi hòa giải , tòa án chủ đô ̣ng giải thích để các đƣơng sƣ̣ hiể u pháp luâ ̣t về vấ n đề ho ̣ tranh chấ p , giải quyế t vƣớng mắ c giƣ̃a đƣơng sƣ̣ để ho ̣ thỏ a thuâ ̣n với nhau giải quyế t các vấ n đề vu ̣ án. Nhƣ vâ ̣y, Tòa án chính là bên trung gian đứng ra giúp đỡ các bên thỏa thuâ ̣n với nhau về giải quyế t vu ̣ án. Thứ ba, hòa giải là sự thƣơng lƣợng, thỏa thuận của chính các đƣơng sự về quyền, lợi ích của mình.
Cơ sở của hòa giải vu ̣ án dân sƣ̣ là quyề n tƣ̣ đinh ̣ đoa ̣t của đƣơng sƣ̣. Tòa án chỉ đóng vai trò trung gian , giúp đỡ hai bên đi đến đƣợc thỏa thuận với nhau , tƣ̀ đó công nhâ ̣n sƣ̣ thỏa thuâ ̣n này. Sƣ̣ thỏa thuâ ̣n giƣ̃a các đƣơng sƣ̣ phải trên cơ sở là sƣ̣ tƣ̣ nguyê ̣n và ý chí của các 8 đƣơng sƣ̣. Đây chính là đă ̣c trƣng cơ bản của hòa giải , đồ ng thời là điể m khác biệt giữa hòa giải và xét xử.
Khi xét xƣ̉ , Tòa án sẽ ra phán quyế t và đƣơng sƣ̣ phải tuân thủ nghiêm chỉnh mo ̣i phán quyế t của Tòa án. Nhƣ vậy, có thể hiểu hòa giải là một phƣơng thức giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của một bên thứ ba trung lập, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết các tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội. Chế định hòa giải là một trong những chế định của pháp luật TTDS, bao gồm tổng thể các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hòa giải vụ việc dân sự. Cụ thể hơn chế định hòa giải là tổng hợp các quy định pháp luật tố tụng về nguyên tắc, phạm vi, thành phần, nội dung, trình tự thủ tục do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đƣơng sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội.
Khái niệm kỹ năng giải quyết tranh chấp dân sự bằng hòa giải Kỹ năng hoà giải là khả năng vận dụng kiến thức pháp luật, đạo đức xã hội và kinh nghiệm cuộc sống để giải thích, hƣớng dẫn, thuyết phục, cảm hoá các bên tranh chấp tự giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn, nhằm xoá bỏ bất đồng và đạt đƣợc thoả thuận giải quyết tranh chấp phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội. Hoà giải trong vụ án dân sự là một trong các thủ tục tố tụng quan trọng trong quá trình giải quyết các tranh chấp về dân sự (hiểu theo nghĩa rộng là các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thƣơng mại, lao động) tại Toà án. Tính chất của hoà giải là tác động đến hai hay nhiều đối tƣợng có tranh chấp đạt đến sự thống nhất. Để đạt đƣợc mục đích của hòa giải đòi hỏi chủ thể trung gian hòa giải phải có sự am hiểu kiến thức chuyên môn nhất định, bên cạnh đó, vấn đề kỹ năng hòa giải cũng là một vấn đề đáng lƣu ý.
Theo quy định của Điều10 BLTTDS năm 2015 thì: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự”. Nhƣ vậy, trong việc giải 9 quyết vụ án dân sự, Tòa án đóng vai trò là trung gian hòa giải, giúp đỡ các bên đƣơng sự thỏa thuận giải quyết vụ án. Điều này có nghĩa, hòa giải là sự tự nguyện thỏa thuận và thƣơng lƣợng giữa các đƣơng sự về việc giải quyết vụ án với sự giúp đỡ của Tòa án nhằm hƣớng sự thỏa thuận giữa các đƣơng sự đúng pháp luật và chính sách của Nhà nƣớc.