phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chƣơng 2: Rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong dạy học Chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng, sinh học 11, Trung học phổ thông. Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Cơ sở lí luận của đề tài 1. Hệ thống hóa kiến thức 1. Khái niệm hệ thống Lý thuyết hệ thống coi đối tượng nghiên cứu là một hệ toàn vẹn bao gồm các thành tố có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Khái niệm hệ thống được Vonbartalanfly xác định như sau: Hệ thống là một tổng thể các phần tử có quan hệ, có tương tác với nhau… Theo quan điểm triết học thì đó là một tổ hợp các yếu tố cấu trúc liên quan chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể, trong đó mối quan hệ qua lại biện chứng giữa các yếu tố cấu trúc đã làm cho đối tượng mối quan hệ qua lại đó,chúng tạo nên những thuộc tính mới, các thuộc tính mới này không có ở những yếu tố cấu trúc.
Mỗi yếu tố trong hệ thống lớn lại bao gồm nhiều hệ thống con tạo nên các cấp độ thứ bậc khác nhau. Trong bút ký triết học và nhiều tác phẩm của mình V.I Leenin đã chú ý nhiều đến khái niệm chỉnh thể, cái toàn vẹn với cái bộ phận, cái toàn thể là một hệ thống lớn, cái bộ phận là từng hệ thống nhỏ, cũng như mối liên hệ biện chứng giữa các bộ phận với nhau và với hệ thống, giữa các hệ thống khác. Nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau về Sinh học đã có những ý kiến của các nhà khoa học đề cập đến bản chất, vai trò nhận thức một hệ thống và việc hệ thống hóa kiến thức.vaplop đã thành công trong nghiên cứu sinh lí người khi và chỉ khi đã xem con người như một hệ toàn vẹn tự điều chỉnh. Tóm lại hệ thống là tổ hợp các yếu tố luôn tác động qua lại với nhau theo quan hệ hàng ngang và quan hệ trên dưới để tạo thành một chỉnh thể thống nhất và tồn tại trong một môi trường xác định.
Khái niệm hệ thống hóa kiến thức 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hệ thống hóa kiến thức là một quá trình thực hiện các thao tác logic để sắp xếp kiến thức vào một hệ thống. Hệ thống hóa là làm cho kiến thức về các sự vật, hiện tượng, quan hệ trở nên có hệ thống. Trong dạy học, khi gặp các nội dung kiến thức nào đó người ta thường phân tích để sắp xếp chúng theo những quan hệ nhất định tạo thành một tổ hợp hệ thống logic gọi là hệ thống hóa kiến thức. Việc hệ thống hóa kiến thức phải dựa trên các dạng quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nội dung, nhất là quan hệ phát sinh hoặc quá trình vận động của các yếu tố có thể được trình bày bằng bảng, sơ đồ hay trình bày theo một logic vận động.
Hoạt động tư duy hệ thống hóa được thực hiện trong quá trình học tập dưới hai hình thức. + Phân chia các đối tượng riêng lẻ nào đó ra các nhóm hoặc các lớp nhất định. + Xem tài liệu học tập vào các hệ thống nhất định nào đó. Kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong học tập: là khả năng vận dụng thành thạo các thao tác tư duy để sắp xếp kiến thức đã học vào những trật tự logic chặt chẽ khác nhau tùy theo mục đích cần hệ thống [15].Vai trò của việc hệ thống hóa kiến thức Trong dạy học, việc hệ thống hóa kiến thức được sử dụng để giáo viên hệ thống một nội dung nào đó.
Đồng thời giáo viên tổ chức cho học sinh nghiên cứu các nguồn tài liệu và diễn đạt những thông tin đọc được, gia công nó theo một hướng nhất định để rút ra được những mối quan hệ có tính quy luật giữa các sự vật,hiện tượng. Như vậy việc hệ thống hóa kiến thức không những giúp học sinh hình thành được một kiến thức mới,củng cố những điều đã học, mà còn biết sắp xếp chúng thành một hệ thống chặt chẽ, đồng thời hình thành kiến thức dưới một góc 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com độ mới, lí giải được y nghĩa sau xa của kiến thức, biết cách diễn đạt ý tưởng của mình bằng ngôn ngữ của chính mình khi nghiên cứu nội dung sinh học. Trong dạy học việc hệ thống hóa kiến thức sẽ có tác dụng: Rèn luyện kỹ năng đọc tóm tắt tìm ra ý chính, cơ bản, cốt lõi nhất trong tài liệu, SGK đồng thời thiết lập được mối quan hệ giữa các thành phần kiến thức, quá trình đòi hỏi học sinh phải là vận dụng thành thạo các thao tác tư duy cơ bản như: so sánh, phân tích, khái quát, trừu tượng hóa, xác lập các mối quan hệ… Đây là quá trình gia công chuyển hóa tri thức từ thông tin bên ngoài thành tri thức riêng của bản thân. Như vậy việc hệ thống hóa kiến thức giúp học sinh sử dụng nguồn tài liệu đa dạng, phát triển tư duy logic.
Trên cơ sở đó phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động. Việc hệ thống hóa kiến thức giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức một cách sâu xắc vừa hình thành phương pháp để đi tới chiếm lĩnh kiến thức cho bản thân, phát triển năng lực tự học, sáng tạo giúp học sinh tự học. Khái niệm kỹ năng Là khả năng vận dụng có mục đích và sáng tạo những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế để giải quyết một nhiệm vụ mới. Kỹ năng vừa thể hiện kĩ thuật hành động, vừa thể hiện năng lực của con người trong hoạt động nhận thức,, hoạt động xã hội.
Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong những điều kiện quen thuộc mà cả những điều kiện biến đổi. Kỹ năng bậc thấp được hình thành lần đầu tiên qua các hoạt động giản đơn. Khi kỹ năng đạt tới thành thạo, khéo léo thì trở thành kỹ xảo, khi có tri thức kết hợp với kĩ xảo sẽ nảy sinh kĩ năng bậc cao.Platonov, GG Goluber có 5 mức độ hình thành kỹ năng như nhau: Mức độ 1: Hình thành kỹ năng sơ đẳng, ý thức được mục đích hành 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động, biết được cách thực hiện hành động dựa trên vốn hiểu biết đã có (kĩ năng bậc thấp) Mức độ 2: Biết cách làm nhưng chưa thàn thạo. Có thể hiểu biết phương thức hành động, sử dụng được những kỹ xảo đã có.
Mức độ 3: có hàng loạt kỹ năng nhưng còn mang tính riêng lẻ, chưa kết hợp được với nhau. Mức độ 4: Có kỹ năng phát triển cao, có sự phối hợp và sử dụng sáng tạo vốn hiểu biết và các kĩ xảo đã có. Biết lựa chọn kĩ năng phù hợp với mục đích. Mức độ 5: Có tay nghề cao, sử dụng thành thạo, sáng tạo các khả năng khác nhau.
Kỹ năng hệ thống hóa kiến thức Là khả năng vận dụng thành thạo, sáng tạo, có mục đích các thao tác phân chia sự vật, hiện tượng theo một trật tự logic chặt chẽ về nội dung, các yếu tố thành phần, mối quan hệ giữa các yếu tố trong một sự vật hiện tượng. Từ đó phối hợp chúng, khái quát chúng theo một trật tự logic nhất định thành một chỉnh thể mới tùy theo mục đích cần hệ thống. Vai trò của kỹ năng hệ thống hóa kiến thức Đối với giáo viên: Thước đo quan trọng về năng lực sáng tạo của mỗi con người trong nền kiến thức là tốc độ tư duy là khả năng chuyển hóa thông tin thành kiến thức và từ kiến thức tạo giá trị. Trong dạy học,hệ thống hóa kiến thức có vai trò quan trọng giúp người học hình dung tri thức trong mối quan hệ biện chứng và các tri thức khác trong cùng một chủ đề hoặc một nội dung nào đó.
Việc HTHKT đòi hỏi học sinh khả năng khái quát hóa đồng thời phải có trình độ hiểu biết nhất định về kiến thức đó. Như vậy, dùng HTHKT không những giúp học sinh ôn tập mà còn có thể kiểm tra trình độ, thói quen tư duy của người học khi giáo viên yêu cầu họ tự HTHKT một phạm vi kiến thức nào đó. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kiến thức trong mỗi bài học có quan hệ logic chặt chẽ với nhau. Để đạt được mục tiêu kiến thức, giáo viên thường tổ chức một hay nhiều hoạt động khác nhau.
Điều này, làm học sinh không thấy rõ được mối liên hệ giữa chúng. Do đó sau mỗi bài học giáo viên cần phải làm cho học sinh nhận biết rõ mối liên hệ này đó chính là sử dụng phương pháp hệ thống hóa kiến thức. Hoạt động học thực chất là quá trình hình thành liên tưởng, phát triển trí nhớ của người học.Hoạt động học sẽ có hiệu quả nếu người học có thể hình thành mối quan hệ giữa các khái niệm, tư duy… khi mối liên hệ giữa các đơn vị tri thức được hình thành thì người học càng có khả năng nhớ lâu và dễ dàng tái hiện tri thức đó sử dụng khi cần thiết. Như vậy, khi rèn luyện kỹ năng HTHKT là chỉ ra sự liên hệ giữa các nội dung kiến thức trong một bài học nào đó với nhau theo một lược đồ nhất định nhằm giúp cho học sinh ghi nhớ và tái hiện bài học tốt hơn.
Đối với học sinh. Chương trình Sinh học, Trung học phổ thông được sắp xếp theo cấu trúc hệ thống đó là các cấp độ tổ chức của thế giới sống. Tế bào →cơ thể→ Quần thể→ Quần xã → Hệ sinh thái. Bản thân trong mỗi cấp độ, các đơn vị kiến thức lại có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Trong quá trình dạy học, việc hệ thống hóa sẽ có tác dụng rèn luyện ở học sinh những phẩm chất trí tuệ sau: Rèn luyện kỹ năng đọc sách,ghi nhớ tài liệu. Thông qua hệ thống hóa kiến thức học sinh biết cách đối chiếu so sánh sự vật, hiện tượng để tìm ra quy luật, mối liên hệ giữa các vấn đề có nghĩa là giáo viên đã rèn luyện cho học sinh khả năng khái quát hóa rút ra kết luận. Sử dụng phương pháp hệ thống hóa kiến thức, tri thức mà học sinh lĩnh hội được không phải ở dạng cung cấp sẵn có mà trên cơ sở hoạt động đối với đối tượng vì thế tri thức phải chính xác phán ánh đúng bản chất, kỹ năng, kỹ xảo.