mở đầu bằng một số tác phẩm của N.Vina, nhà bác học Mĩ viết cuốn “Lí thuyết toán học của quá trình thông tin”. Năm 1950, thuyết hệ thống ra đời với công trình: “ Phác hoạ lý thuyết chung về hệ thống”, phát hiện ra rằng các thành tố trong tổ hợp các quan hệ qua lại với nhau, về bản chất các mối quan hệ này không phải là ngẫu nhiên. Từ đây việc nghiên cứu giao tiếp chịu ảnh hưởng nhiều của điều khiển học, lí thuyết thông tin và lí thuyết hệ thống. Các tác giả này coi giao tiếp là một tổ hợp hành vi, là một quá trình xã hội diễn ra giữa người và người bằng ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ( cử chỉ, điệu bộ, nét mặt…) -Vào những năm đầu của thể kỷ XX, khoa học tâm lý đã bắt đầu chú ý nghiên cứu giao tiếp.
Bác sỹ tâm thần người Aó S.Freud (1856-1939) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa giao tiếp và giấc mơ, ông chú ý đến các yếu tố “ chuyển giao”, “ngoại xuất” và “ đồng nhất” trong giao tiếp. Khi giao tiếp, có người phát tín hiệu, có người nhận thông tin và cả hai bên đều muốn tìm hiểu nhau và có tác động lên nhau. -Các nhà tâm lý học Gestalt quan tâm đến hiện tượng giao tiếp như một cấu trúc trọn vẹn, họ đã phân tích giao tiếp thành các yếu tố và đặt chúng trong một hệ thống các yếu tố rộng hơn các quan hệ xã hội. - Bateson (Pháp), khi nghiên cứu các yếu tố của giao tiếp đã phân biệt hai phương thức giao tiếp là giao tiếp đối xứng và giao tiếp bổ sung.
Theo ông, mọi giao tiếp được biểu hiện ra ở một trong những phương thức ấy, nó có tính hệ thống khi thiết lập được sự bình đẳng hay sự tương hỗ, nó có tính bổ sung khi thể hiện sự khác nhau. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong tâm lý học Mỹ đã xuất hiện nhiều tác giả nghiên cứu về nghệ thuật giao tiếp, kỹ năng giao tiếp trong quản lý, trong lĩnh vực kinh doanh. Cụ thể : -Allan.Pease đã xuất bản cuốn sách “Ngôn ngữ và cử chỉ”. Ông đã đi sâu phân tích kỹ năng phát hiện các trạng thái tâm lý thông qua những động tác, cử chỉ, điệu bộ, tư thế con người trong giao tiếp.
Theo ông, giao tiếp không bằng lời là quá trình tác động phức tạp của con người và những động tác, cử chỉ, nét mặt….có một ý nghĩa nhất định. Mặc dù, có sự khác biệt về văn hoá, nhưng trên một ý nghĩa nhất định, những cử chỉ, động tác ở những con người khác nhau phần lớn đều có ý nghĩa chung. Khi vui con người mỉm cười, khi buồn thì chau mày, khi giận dữ có cái nhìn bực tức …. Cuốn sách được làm giáo trình giảng dạy cho nhân viên thương mại, kinh doanh, các nhà lãnh đạo, quản lý… - Derak Torrington đã nghiên cứu giao tiếp trong quản lý và kinh doanh.
Trong cuốn “Tiếp xúc mặt đối mặt trong quản lý” của mình, ông đã phân tích các hình thức tiếp xúc thường gặp giữa người quản lý và người bị quản lý, từ đó người quản lý cần có kỹ năng giao tiếp với người dưới quyền. Theo ông, có 3 tình huống tác động giữa người quản lý và đối tượng. Đó là, tìm hiểu phát hiện, truyền đạt và cùng nhau giải quyết vấn đề. Ông cũng nêu lên một số kỹ năng giao tiếp của người quản lý: kỹ năng nghe, kỹ năng hỏi và gợi vấn đề, kỹ năng truyền đạt.
Ông đi nghiên cứu đặc điểm của giao tiếp điều tra phỏng vấn: “ Giao tiếp điều tra có đặc điểm nổi bật có tính chất nhanh gọn và giấu tên. Hai người lạ mặt gặp nhau, một người nêu câu hỏi cho người kia và rồi họ sẽ chia tay nhau” Giao tiếp điều tra có thể được chia thành các giai đoạn: Giai đoạn đầu: Tự giới thiệu là phải làm sao để thu hút được sự chú ý của người bị phỏng vấn mà lúc đầu có thể do dự, đồng thời phải làm mờ mình đi để đảm bảo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tính vô danh của cuộc tiếp xúc đòi hỏi giai đoạn trình bày phải cung cấp một số thông tin để người bị phỏng vấn nhập cuộc. Mục đích cuộc điều tra dự định đạt được cái gì và bằng biện pháp như thế nào. Tại sao người đó được lựa chọn để phỏng vấn.
Cuộc điều tra được giữ kín, cần giải thích rõ tính khuyết danh của các dữ liệu. Người được phỏng vấn là người tự nguyện. Những người bị phỏng vấn có cơ hội từ chối dù người phỏng vấn có thuyết phục họ hợp tác.[34,trang119] -Dale Carnegie đã trình bày những nghệ thuật, bí quyết trong quan hệ giao tiếp giữa con người với con người trong cuốn “ Đắc nhân tâm”. Theo ông, để thu hút được đối tượng giao tiếp, con người có nghệ thuật và kỹ năng giao tiếp nhất định.
Ông đã đưa ra 6 cách gây thiện cảm trong giao tiếp: Thành thật chú ý đến người khác; giữ nụ cười trên môi; cố gắng biết tên đối tượng và xưng tên họ khi tiếp xúc; biết chăm chú lắng nghe, khuyến khích đối tượng nói chuyện về họ; nói với người ấy về những gì thuộc về sở thích, hoài bão của họ; thành thật làm cho họ thấy sự quan trọng của họ [9,trang 98] Từ những công trình nghiên cứu mà chúng tôi tiếp cận được, chúng tôi cho rằng: Các nghiên cứu về giao tiếp ở các nước phương tây ngày càng phát triển theo hướng ứng dụng vào các lĩnh vực hoạt động cụ thể như giao tiếp trong kinh doanh, trong quản lý, trong tiếp xúc xã hội hàng ngày…. Những nghiên cứu như vậy có ý nghĩa thực tiễn. Song, nghiên cứu sâu về kỹ năng giao tiếp, đặc biệt kỹ năng giao tiếp trong hoạt động chính trị xã hội ít được các tác giả quan tâm.2 Nghiên cứu giao tiếp, kỹ năng giao tiếp ở Liên Xô (trƣớc đây) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Liên Xô, vào nửa sau của thế kỷ XX, đó xuất hiện một loạt công trình nghiên cứu về giao tiếp. Có thể quy vào 2 hướng chính: Hướng thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề chung về giao tiếp như: bản chất, cấu trúc giao tiếp, cơ chế giao tiếp, mối quan hệ giữa giao tiếp và hoạt động…Vào thời gian này đã có một số công trình nghiên cứu giao tíêp được xuất bản; có thể kể ra một số công trình sau: “ Tâm lý học về các mối quan hệ qua lại trong nhóm nhỏ” (1976) của I.L Kolominxki, “Tâm lý học giao tiếp” (1978) của A.A Leonchiev, “Giao tiếp trong tâm lý học” (1981) của K.K Platonov và “Phạm trù giao tiếp và hoạt động trong tâm lý học” của B.Lomov… Cần phải kể đến các bài báo cáo về cuộc tranh luận phạm trù giao tiếp và phạm trù hoạt động của B.A Leonchiev đăng trên tạp chí triết học Liên Xô (1979 ).
Quan điểm thứ 1: A.A Leonchiev cho rằng giao tiếp có thể là một dạng hoạt động, hoặc có thể là một phương thức, điều kiện của hoạt động. Quan điểm thứ 2: B.Lomov cho rằng hoạt động và giao lưu được xem như những khía cạnh tương đối độc lập của quá trình thống nhất của đời sống con người. Phạm trù “hoạt động” phản ánh mối quan hệ chủ thể – khách thể, còn phạm trù “ giao tiếp” phản ánh mối quan hệ chủ thể – chủ thể, hai phạm trù này độc lập với nhau.Enconhin đã phân tích mối quan hệ của chủ thể – khách thể và chủ thể – chủ thể trong đời sống trẻ em, ông cho rằng hai nhóm này thống nhất thể hiện trong hoạt động của trẻ. Ông viết: có hoạt động của trẻ trong hệ thống trẻ em - đồ vật xã hội và hệ thống trẻ em – người lớn xã hội là quá trình thống nhất trong đó nhân cách của nó được hình thành.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong cuộc sống, hoạt động và giao tiếp quan hệ khăng khít với nhau. Từ đó dẫn đến tư tưởng cho rằng giao tiếp là một dạng của hoạt động, giao tiếp là một mặt của hoạt động cùng nhau. Hướng thứ hai, nghiên cứu các dạng giao tiếp nghề nghiệp (chủ yếu là giao tiếp sư phạm) giao tiếp sư phạm là một loại giao tiếp nghề nghiệp thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu, trong lĩnh vực này đã xuất hiện một loạt công trình nghiên cứu có giá trị lý luận và thực tiễn.A Leonchiev “ giao tiếp sư phạm” (1979); A.V Petropxki “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm”; V.A Krutetxki “Những cơ sở của tâm lý học sư phạm” (1980); Ph. Gonobolin “Những phẩm chất tâm lý người giáo viên”….Cancalich đã đưa ra cấu trúc của giao tiếp sư phạm gồm bốn thành phần: nhận thức (nhà giáo dục xây dựng mô hình giao tiếp với nhóm, lớp học sinh trong quá trình chuẩn bị hoạt động), tổ chức (nhà giáo dục phải tổ chức gặp trực tiếp ngay từ lúc đầu tiên tác động đến học sinh), định hướng giao tiếp trong quá trình hoạt động và điều khiển giao tiếp trong quá trình hoạt động.
Trên cơ sở phân tích cấu trúc của giao tiếp sư phạm, ông chia thành năm giai đoạn, bao gồm: giai đoạn định hướng đầu tiên, giai đoạn định hướng chung, giai đoạn “ thăm dò tâm hồn đối tượng”, giai đoạn thu hút sự chú ý của học sinh và giai đoạn cuối cùng là giao tiếp ngôn ngữ, lời nói, bài giảng, tạo sự chú ý của học sinh.Cancalich: mỗi giai đoạn có những kỹ năng giao tiếp nhất định và ông đã đưa ra một hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm, luyện kỹ năng hành động một cách có tổ chức triệt để ở nơi công cộng, luyện kỹ năng tạo bầu không khí xúc cảm thích hợp ở trong lớp, luyện kỹ năng đối thoại ngắn, thay đổi điệu bộ, giọng nói …. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.A Leonchiev đã liệt kê một số kỹ năng giao tiếp sư phạm như: kỹ năng điều khiển hành vi bản thân, kỹ năng quan sát (phẩm chất chú ý linh hoạt), kỹ năng nhạy cảm xã hội, biết phán đoán nét mặt người khác, kỹ năng đọc, hiểu, mô hình hóa nhân cách học sinh, kỹ năng làm gương cho học sinh noi theo, kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ, kỹ năng kiến tạo sự tiếp xúc, kỹ năng nhận thức (thu nhận, hệ thống hoá và truyền đạt thông tin).Dakharov đã đề xuất trắc nghiệm nghiên cứu các kỹ năng giao tiếp.