CHƯƠNG 1 TỔ CHỨC LÀNG XÃ THỜI VUA LÊ THÁNH TÔNG VÀ VUA MINH MẠNG Cải cách hành chính thời vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng được xem là những cuộc cải cách quy mô trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Trong đó, cả hai cuộc cải cách đều hướng đến việc tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với làng xã. Tuy nhiên, mỗi cuộc cải cách diễn ra trong hoàn cảnh khác nhau, nếu của vua Lê Thánh Tông diễn ra trong bối cảnh xã hội tương đối ổn định và nền kinh tế với ruộng công chiếm phần lớn. Cuộc cải cách của vua Minh Mạng lại diễn ra trong bối cảnh xã hội còn nhiều biến động và ruộng tư phát triển mạnh cùng với nạn cường hào.
Thông qua tìm hiểu về chính sách quản lý làng xã của mỗi vị vua trong bối cảnh xã hội có nhiều điểm khác biệt đó, sẽ giúp ta có cái nhìn toàn diện về tổ chức làng xã thời kỳ này và rút ra những kinh nghiệm cho quá trình đổi mới tổ chức chính quyền cấp xã hiện nay. Khái niệm làng xã Làng là đơn vị tụ cư truyền thống lâu đời của người nông dân4, cộng đồng của những gia đình có cùng địa bàn cư trú liên kết với nhau để chống chọi với thiên nhiên, làm ăn sinh sống và để tự vệ chống lại sự xâm lấn từ bên ngoài5. Làng Việt xuất hiện từ rất sớm, cùng với quá trình tan rã của công xã thị tộc hình thành công xã nông thôn6, có lịch sử khoảng 4000 năm7. Còn xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở của Nhà nước phong kiến ở vùng nông thôn Việt Nam (miền núi, vùng các tộc người thiểu số gọi là sách)8.
Xã lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ VII dưới thời thống trị của nhà Đường9. Tuy nhiên phải đến khi họ Khúc giành được quyền tự chủ vào đầu thế kỷ thứ X, ý tưởng biến làng Việt cổ truyền thành đơn vị hành chính cấp cơ sở của Nhà nước trước đây mới được khẳng định và chính thống hóa10. 4 Bùi Xuân Đính (2007), Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam những suy ngẫm, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr. 5 Vũ Minh Giang (2008), Những đặc trưng cơ bản của bộ máy quản lý Nhà nước và hệ thống chính trị nước ta trước thời kỳ đổi mới, NXB NXB Chính trị sự thật, Hà Nội, tr.
6 Sự khác nhau giữa công xã nông thôn và công xã thị tộc là tuy ruộng đất vẫn thuộc quyền sở hữu công xã nhưng đã được chia có các thành viên công xã, những gia đình nhỏ để canh tác và các thành viên này được quyền sở hữu sản phẩm lao động của mình. Trường đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 7 Nguyễn Quang Ngọc, Quan hệ Nhà nước – làng xã: quá trình lịch sử và bài học kinh nghiệm, tham khảo thêm tại:https://khoalichsu.vn/quan-h-nha-nc-lang-xa-qua-trinh-lch-s-va-bai-hc-kinh-nghim- gsts-nguyn-quang-ngc/ , truy cập lần cuối ngày 31/5/2022. 8 Bùi Xuấn Đính, tlđd (4), tr.
9 Nguyễn Quang Ngọc, tlđd (7). 10 Nguyễn Quang Ngọc, tlđd (7). 6 Theo đó, từ một đơn vị tụ cư, làng bị lắp ghép thành đơn vị hành chính cấp cơ sở của Nhà nước phong kiến11, nên được gọi là làng xã. Cùng với quá trình này là sự ra đời thôn – cấp trung gian giữa làng và xã.
Cấp thôn ra đời chính là do nhu cầu quản lý hành chính của bản thân cấp xã. Nhà nước thông qua xã để quản lý dân làng, nhưng xã khó có thể làm tốt chức năng quản lý hành chính của mình nếu như không thông qua một cấp trung gian khác là thôn. Thôn vì thế đã trở thành đầu mối giáp nối, gắn kết và điều hòa hai hệ thống quản lý: hành chính và tự trị, luật pháp và tục lệ, chính trị và xã hội12. Thời kỳ đầu một xã chỉ có một làng – “nhất xã nhất thôn”, nhưng dần dần trong quá trình phát triển, một xã có khi bao gồm vài ba làng, thậm chí nhiều hơn nữa “nhất xã nhị tam thôn”13.
Như vậy, làng xã là một đơn vị tụ cư, đơn vị kinh tế, đơn vị tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đồng thời là đơn vị hành chính cấp cơ sở Nhà nước phong kiến14. Tổ chức làng xã thời vua Lê Thánh Tông 1. Bối cảnh tiến hành cải cách Thứ nhất, về mặt xã hội, các vị vua đầu thời Lê sơ, như vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông đã không ngừng các biện pháp tăng cường quản lý nhằm duy trì sự ổn định và trật tự cho xã hội. Cùng với đó là đưa Nho giáo thành hệ tư tưởng chính thống của Nhà nước và xã hội.
Điều này làm củng cố vị trí của tầng lớp Nho sĩ cũng như thiết lập và duy trì hệ thống đẳng cấp của Nho giáo trong xã hội. Có thể nói, triều Lê tại thời kỳ này là đang trong thời kỳ phát triển hưng thịnh cả về kinh tế, văn hóa và xã hội: “Đời vua Thái Tổ, Thái Tông Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn”15 Thứ hai, về mặt kinh tế, trong thời kỳ bị quân Minh đô hộ với những chính sách thuế khóa khắc nghiệt, vơ vét tài nguyên, cấm chỉ ngoại thương đã làm cho nền kinh tế công thương nghiệp bị phá hoại nặng nề. Riêng đối với nông nghiệp, chiến sự liên miên khiến dân chúng phiêu tán bỏ hoang ruộng đất, một số nơi thì bị nhà Minh cướp đoạt ruộng đất để ban thưởng cho ngụy quân. Những điều đó làm phá sức sản xuất của nền nông nghiệp, gây rất nhiều khó khăn trong việc cày cấy, trồng 11 Bùi Xuấn Đính, tlđd (4), tr.
12 Nguyễn Quang Ngọc, tlđd (7). 13 Nguyễn Quang Ngọc, tlđd (7); Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam, NXB Hồng Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 14 Nguyễn Quang Ngọc, tlđd (7). 15 Báo Văn nghệ, Về câu ca “đời vua Thái tổ Thái tông…”, http://baovannghe.vn/ve-cau-ca-doi-vua- thai-to-thai-tong-18528.html, truy cập lần cuối ngày 12/6/2022.
Ngay sau khi giành lại độc lập, vua Lê Thái Tổ đã nhanh chóng khôi phục lại nền kinh tế, kêu gọi nhân dân phiêu tán trở về làm cày cấy17. Những chính sách này bước đầu đã đem lại hiệu quả tích cực. Cùng với đó, nhà vua cho tiến hành đo đạc và phân phối lại ruộng đất. Theo đó, Nhà nước tăng cường chiếm hữu ruộng đất, bộ phận ruộng đất công thuộc sở hữu Nhà nước bao trùm tất cả.
Về ruộng đất tư: phát triển từ những thời kỳ trước, đến nay ngày càng mở rộng nhưng vẫn chỉ chiếm một diện tích nhỏ. Ruộng đất tư chủ yếu nằm trong tay quý tộc, quan lại và địa chủ. Tóm lại, nước Đại Việt thời vua Lê Thánh Tông lên ngôi đang trong thời kỳ yên bình, vững chắc18. Sau khi lật đổ vị vua “tiếm quyền” Lê Nghi Dân và thái hậu Nguyễn Thị Anh.
Năm 1460, Lê Tư Thành được quần thần truy phong lên ngôi vua. Ngay khi lên ngôi ông đặt niên hiệu là Quang Thuận, năm 1469 lấy niên hiệu là Hồng Đức. Ông trị vì 37 năm, năm 1497 thì băng hà, miếu hiệu Thánh Tông. Sử thường gọi là Lê Thánh Tông.
Với mục đích tập trung tuyệt đối quyền lực Nhà nước vào tay nhà vua theo nguyên tắc “tôn quân quyền” của Nho giáo và tăng cường hiệu lực của bộ máy quan liêu19. Vua Lê Thánh Tông đã tiến hành cải cách hành chính trong cả nước, trong đó đặc biệt là tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với làng xã. Nội dung cải cách Với mục tiêu tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với làng xã, nhà vua đã tiến hành cải cách ở các nội dung: (i) xác định vị trí của cấp xã trong hệ thống tổ chức chính quyền địa phương, (ii) cải tổ lại bộ máy quản lý làng xã, (iii) tăng cường chính sách quản lý của Nhà nước đối với làng xã. Thứ nhất, về vị trí của làng xã trong hệ thống tổ chức chính quyền địa phương.
Cuộc cải tổ bộ máy hành chính của vua Lê Thánh Tông được tiến hành bắt đầu từ năm 1466 với việc định lại các cấp hành chính địa phương, cụ thể: “Đặt 13 đạo thừa tuyên: Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, Thiên Trường, Nam Sách, Quốc Oai, Bắc Giang, An Bang, Hưng Hóa, Tuyên Quang,Thái Nguyên, Lạng Sơn và phủ Trung Đô.Đổi lộ thành phủ, đổi trấn thành châu, đổi an phủ sứ các lộ Tri phủ, Trấn phủ thành Đồng tri phủ, Chuyển vận thành Tri huyện, Tuần sát thành Huyện thừa, 16 Viện sử học (2017), Lịch sử Việt Nam tập 3, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 17 Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn và Nguyễn Cảnh Minh (2014). Đại cương lịch sử Việt Nam, NXB.
Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr 325. 18 Trường đại học Luật Hà Nội, tlđd (6), tr. 19 Trường đại học Luật Hà Nội, tlđd (6), tr. 8 Xã quan thành Xã trưởng”20.
Trong hệ thống tổ chức chính quyền địa phương này thì xã là cấp hành chính cơ sở. Về đơn vị tổ chức và quản lý làng xã: nếu thời vua Lê Thái Tổ, Nhà nước lấy số dân để làm tổ chức và quản lý làng xã21, thì nay vua Lê Thánh Tông lại sử dụng hộ gia đình làm đơn vị tổ chức và quản lý làng xã. Theo đó, dựa vào số hộ, Nhà nước chia làng xã thành ba loại: xã lớn (500 hộ), xã vừa (300 hộ) và xã nhỏ (100 hộ). Nếu xã nào lên đến 600 hộ thì cho phép tách ra thành một xã lớn và một xã nhỏ22.
Có thể nói, việc dựa vào số hộ để phân loại này của vua Lê Thánh Tông đã đưa làng quê trở về với truyền thống, đạo lý, lối sống lâu đời. Bởi lẽ, gia đình là tế bào của xã hội, là đơn vị sản xuất cơ bản nhất trong nền kinh tế tiểu nông23. Bên cạnh đó việc nhà vua định số hộ để tách xã thì cũng đã giới hạn quy mô của làng xã nhằm đảm bảo hiệu lực quản lý của Nhà nước. Thứ hai, về bộ máy quản lý làng xã, theo cải cách năm 1466, người đứng đầu làng xã được đổi từ Xã quan thành Xã trưởng.
Người đứng đầu làng xã lúc này không còn đứng trong hàng ngũ quan lại, cũng không do triều đình cử về mà do dân làng bầu lên. Việc bầu chọn này phải tuân theo những quy định của pháp luật về tiêu chuẩn bầu chọn, quá trình bầu chọn, xét đặt và khảo hạch.