Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chuyển đổi số. Chương 2: Phân t ch kinh nghiệm chuyển đổi số của một số quốc gia trên thế giới. Chương 3: Bài học kinh nghiệm chuyển đổi số cho Việt Nam. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI SỐ 1.
Tổng quan về chuyển đổi số 1. Khái niệm về chuyển đổi số Hiện nay, khái niệm về chuyển đổi số vẫn chưa có sự thống nhất trên thế giới, tùy vào từng quốc gia hay cụ thể hơn là từng ngành nghề và lĩnh vực mà khái niệm chuyển đổi số được đưa ra để phù hợp với lĩnh vực đó. V dụ như: Theo cẩm nang chuyển đổi số của Bộ Thông tin và Truyền thông: “Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của các cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ” (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2020, tr. Ngoài ra, theo Tech Republic khái nhiệm chuyển đổi số được hiểu là cách sử dụng các công nghệ hiện đại tiên tiến để thực hiện lại những quy trình làm việc sao cho có tính hiệu quả cao hơn, đạt kết quả tốt hơn (Tech Republic, 2021).
Bên cạnh đó, Microsoft cho rằng chuyển đổi số là quá trình sử dụng các công nghệ mới và quy trình công việc kinh doanh để tối ưu hóa, tự động hóa và hiện đại hóa hoạt động kinh doanh của một tổ chức (Microsoft 365 Team, 2022). Theo Nambisan và cộng sự (2017): “Chuyển đổi số là việc áp dụng dữ liệu và quy trình trong các mô hình kinh doanh mới. những thay đổi lớn có thể xảy ra với quá trình chuyển đổi số, chẳng hạn như việc kiểm soát các doanh nghiệp, nhà máy sản xuất ở một khu vực cụ thể được giám sát từ xa và toàn bộ chuỗi cung ứng có thể được tích hợp vào quá trình lưu kho, sản xuất. Một thuật ngữ liên quan đến chuyển đổi số hay được truyền thông nói đến là Công nghiệp 4.
Ngoài ra, chuyển đổi số đề cập đến sự thay đổi liên quan đến việc áp dụng công nghệ số vào mọi mặt của đời sống con người, xã hội và tổ chức” (Nambisan và cộng sự, 2017). Tốc độ thay đổi là đặc trưng ch nh của chuyển đổi số (Peppard, 2016). Theo tác giả này, có hai loại thay đổi của tổ chức: chuyển đổi và gia tăng. Thay đổi chuyển đổi số là nhiều hơn thay đổi cơ bản, yêu cầu thay đổi mô hình hoạt động, sản phẩm, dịch vụ và giá trị cốt lõi.
Loại thay đổi này được giải phóng khỏi trạng 6 thái hiện tại của tổ chức, còn được gọi là AS-IS. Loại thay đổi này dẫn đến một loại tổ chức và các biện pháp thành công khác nhau. Có rất nhiều ví dụ về chuyển đổi số, dưới đây là một vài hình mẫu về áp dụng chuyển đổi số trong doanh nghiệp: Nespresso là nhà sản xuất máy pha cà phê đặc biệt và là đơn vị điều hành của Tập đoàn Nestlé có trụ sở tại Thụy Sĩ, Nespresso đã triển khai hệ thống quản lý quan hệ khách hàng (CRM) dựa trên đám mây nhằm cung cấp cho khách hàng quyền truy cập đa kênh để mua sắm và dịch vụ khách hàng. Khách hàng có thể tiếp cận công ty cho dù họ sử dụng trang web, sử dụng thiết bị di động hay ghé thăm cửa hàng.
Việc có một chế độ xem duy nhất cho từng khách hàng của mình - chế độ xem 360 độ - đã cho phép Nespresso tiến vào nhiều thị trường hơn và cải thiện doanh số bán hàng. Netflix được thành lập như một công ty cho thuê đĩa video kỹ thuật số (DVD) qua thư vào năm 1997, Netflix đã tự đổi mới mình thành một dịch vụ truyền phát video trực tuyến cung cấp các dịch vụ tùy chỉnh dựa trên sở thích của từng khách hàng. Capital One Financial Corp được thúc đẩy bởi những đổi mới kỹ thuật số của mình, Capital One đã trở thành một trong những tổ chức tài ch nh hàng đầu tại Hoa Kỳ được xếp hạng theo tài sản. CTO George Brady, trong một bài viết vào tháng 11 năm 2018 trên trang web của công ty, đã đưa ra những hiểu biết của mình về "hành trình bốn năm thay đổi đột phá" của công ty, nói rằng: "Chúng tôi không chỉ sử dụng các công nghệ mới nhất, chúng tôi tạo ra chúng và truyền chúng vào mọi thứ chúng tôi làm.
Chúng tôi coi mình là một công ty công nghệ lấy khách hàng làm trung tâm, cung cấp các dịch vụ tài chính sáng tạo, chứ không phải ngược lại". Pizza của Domino, công ty bánh pizza 60 tuổi đã chuyển mình thành công trong thời đại kỹ thuật số, tung ra các dịch vụ đổi mới dựa trên công nghệ, chẳng hạn như Trình theo dõi Pizza và các công nghệ di động đã giúp thúc đẩy tăng trưởng đáng kể trong thập kỷ qua. Tóm lại, theo cách hiểu của tác giả, chuyển đổi số là việc áp dụng khoa học - công nghệ vào tất cả các lĩnh vực trong đời sống của một quốc gia để cải thiện hiệu 7 quả làm việc và thúc đẩy quá triển phát triển đất nước cũng như đời sống của con người. Và tác giả lựa chọn khái niệm chuyển đổi số của Bộ Thông tin và Truyền thông để làm khái niệm chính trong bài luận văn này.
Các tiêu chí đánh giá mức độ chuyển đổi số Căn cứ quyết định số: 1726/QĐ-BTTTT về phê duyệt đề án “xác định bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và của quốc gia” ngày 12 tháng 10 năm 2020. Các tiêu ch được đánh giá mức độ chuyển đổi số được thể hiện là: Đối với cơ quan chính phủ: Trụ cột Chính quyền số gồm 07 chỉ số chính, 45 chỉ số thành phần và 133 tiêu chí, ví dụ như: Tuyên truyền, phổ biến, tập huấn về chuyển đổi số, ngân sách cho công nghệ thông tin, nền tảng thanh toán trực tuyến, di động, dữ liệu lớn và công cụ phân tích dữ liệu lớn, chữ ký điện tử, chữ ký số, v. Đối với kinh tế số: Trụ cột Kinh tế số gồm 07 chỉ số chính, 36 chỉ số thành phần và 101 tiêu chí, ví dụ như: Tuyên truyền, phổ biến về kinh tế số, ngân sách cho phát triển kinh tế số, hạ tầng Internet, v. Đối với xã hội số: Trụ cột Xã hội số gồm 07 chỉ số chính, 27 chỉ số thành phần và 72 tiêu chí, ví dụ như: Sử dụng thiết bị số và truy cập mạng của người dân, tỷ lệ người dân được tập huấn, phổ biến kiến thức về bảo vệ tr em trên không gian mạng, ứng dụng các dịch vụ giáo dục trong xã hội, v.
8 Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông, 2020 Hình 1.1: Các chỉ số chuyển đổi số quốc gia Căn cứ theo kết quả đánh giá chuyển đổi số cấp tỉnh và cấp bộ, và các điều kiện, nhu cầu phát triển kinh tế, mà các chỉ số thành phần và tiêu chí của Chỉ số chuyển đổi số quốc gia sẽ được Bộ Thông tin và Truyền thông quy định và điều chỉnh cho phù hợp thực tế. Do vậy, cơ quan nhà nước muốn chuyển đổi số thành công, cần phải nghiên cứu rõ ràng các tiêu ch và đưa ra những mục tiêu cần đạt được để đưa cơ quan, tổ chức của mình từng bước chuyển đổi số thành công. Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số Năng lực chuyển đổi số của một tổ chức là khả năng ứng dụng các công nghệ kỹ thuật số mới trong tổ chức, để vận hành và quản lý, đồng thời tạo lập những tài sản có giá trị từ ứng dụng công nghệ số để giúp tối ưu hóa các nguồn lực, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường và tạo ra giá trị gia tăng. Do đó, để thực hiện chuyển đổi 9 số thành công, kể cả cơ quan nhà nước và các tổ chức, doanh nghiệp cần phải quan tâm đến những yếu tố sau đây: Thứ nhất, năng lực lãnh đạo.
Sự cần thiết trong thay đổi tư duy và hành động của ban quản lý, điều hành ảnh hưởng rất lớn đến khả năng chuyển đổi số của tổ chức. Những thay đổi có thể kể đến như: tối ưu hóa nhanh chóng quy trình ra quyết định của lãnh đạo nhờ khả năng truy cập tức thì về thông tin và dữ liệu mở rộng (Mazzei & Noble, 2017), các nguyên tắc giao tiếp mới (Bennis, 2013; Granados & Gupta, 2013) và những thay đổi trong học hỏi và phát triển của lãnh đạo (Sia và cộng sự, 2016). Hơn nữa, lãnh đạo cần có tư duy kỹ thuật số mới để dẫn dắt hành trình chuyển đổi số của cơ quan, tổ chức. Thứ hai, chiến lược chuyển đổi số.
Để thực hiện công cuộc chuyển đổi số thành công, tổ chức phải có một chiến lược phù hợp và có một tầm nhìn xa, có thể bao quát được cả quá trình. Qua đó, có thể giúp tổ chức có thể thực hiện đúng theo quy trình, không bị lãng phí thời gian và tiền bạc. Thứ ba, cơ sở hạ tầng công nghệ. Chuyển đổi số sẽ làm thay đổi cơ cấu công việc (Hansen & Sia, 2015; Loebbecke & Picot, 2015), vai trò công việc và yêu cầu tại nơi làm việc (White, 2012).
Tính liên kết kỹ thuật số cho phép sự xuất hiện các nhóm vị trí chéo trên toàn bộ phạm vi của cơ quan, tổ chức. Trong hoàn cảnh này, loại hình công việc truyền thống dần biến mất, các ngành nghề mới được tạo ra đồng thời là các cơ hội mới xuất hiện vượt ra ngoài ranh giới của công sở và doanh nghiệp. Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình chuyển đổi số. Tiếp đến, trình độ đội ngũ làm công, nhân viên.
Để vận hành được những thiết bị công nghệ hiện đại đòi hỏi trình độ nhân viên phải đáp ứng đủ các yêu cầu. Do đó, nếu năng lực nhân viên không thể thực hiện được công việc trong quá trình chuyển đổi số, cũng làm giảm thiểu không nhỏ hiệu quả của công việc và mục tiêu chuyển đổi số của cơ quan, tổ chức. Ngoài ra, văn hóa công sở cũng là một nhân tố không nhỏ ảnh hướng đến quá trình chuyển đổi số. Bởi lẽ, khi áp dụng một hình thức làm việc mới, cũng đồng nghĩa với tư duy làm việc và cách nhìn nhận cũng phải thay đổi theo để thích nghi 10 với loại hình mới.
Do đó, những lỗi suy nghĩ cũ hay gọi là văn hóa doanh nghiệp cũ đã không còn phù hợp và cũng ảnh hưởng đến thành bại của kết quả áp dụng chuyển đổi số. Cuối cùng, sức ép từ bên ngoài. Trong một thế giới có nền kinh tế mở, việc cạnh tranh là hoàn toàn công bằng và được chấp nhận.