Chương 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP BIÊN GIỚI - LÃNH THỔ TRÊN BIỂN 1. Khái quát về chủ quyền quốc gia trên biển 1. Khái niệm chủ quyền quốc gia Quốc gia là chủ thể chủ yếu của luật quốc tế và là một chủ thể đặc biệt. Bởi khác với các chủ thể khác, quốc gia là chủ thể có thuộc tính chính trị, pháp lý đặc thù là chủ quyền.
Từ trước đến nay tồn tại nhiều học thuyết khác nhau về chủ quyền quốc gia đặc biệt là Thuyết chủ quyền tuyệt đối xuất hiện vào khoảng thế kỷ XV-XVI. Nội dung của thuyết chủ quyền tuyệt đối là chủ quyền quốc gia phải được đặt lên trên tất cả mọi quyền lợi khác. Về phương diện đối nội, chủ quyền quốc gia chỉ bị giới hạn bởi pháp luật thiên nhiên. Về phương diện đối ngoại, chủ quyền quốc gia chỉ bị hạn chế bởi hoàn cảnh, không có quyền lực nào ở trên chủ quyền quốc gia.
Tuy nhiên ngày nay học thuyết chủ quyền tuyệt đối được cho là không phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Việc áp dụng thuyết chủ quyền tuyệt đối dẫn đến hệ quả các quốc gia không bắt buộc phải tôn trọng và thực thi luật quốc tế. Các nguyên tắc cơ bản, quy phạm của luật quốc tế không có tính cưỡng chế mà chỉ mang tính chất ngoại giao. Vì vậy thuyết chủ quyền tuyệt đối không được nhiều quốc gia ủng hộ bởi nó đi ngược lại với lợi ích và sự phát triển của cộng đồng quốc tế.
Trong luật quốc tế hiện đại, chủ quyền quốc gia được hiểu là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Quan điểm đồng nhất hai khái niệm chủ quyền và độc lập được trọng tài Max Huber ghi nhận và khẳng định trong phán quyết 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nổi tiếng về Đảo Palmas: “Trong quan hệ giữa các quốc gia, chủ quyền quốc gia đồng nghĩa với độc lập”. Điều này có nghĩa rằng các quốc gia có quyền tự chủ, không lệ thuộc vào các quốc gia khác thông qua hai nội dung chủ yếu là đối nội và đối ngoại. Về mặt đối nội, quốc gia có quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ của mình, thể hiện chủ yếu thông qua việc thực hiện thẩm quyền mang tính hoàn toàn, tuyệt đối và riêng biệt trên hai phương diện quyền lực và vật chất: - Về phương diện quyền lực, quốc gia có quyền bất khả xâm phạm về lãnh thổ; quyết định đường lối phát triển đất nước; thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp thông qua hệ thống cơ quan Nhà nước từ trung ương đến địa phương; thực hiện thẩm quyền đối với các cá nhân và tổ chức đang hoạt động trên lãnh thổ quốc gia.
- Về phương diện vật chất, quốc gia có quyền khai thác, sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên nằm phía trong biên giới quốc gia, bao gồm tài nguyên vùng lòng đất, tài nguyên đất, nước, không khí…Quốc gia thực hiện quyền lực của mình một cách đầy đủ, trọn vẹn, trên cơ sở tôn trọng lợi ích cộng đồng dân sư sinh sống trên vùng lãnh thổ đó đồng thời phù hợp với các quyền dân tộc cơ bản. Về mặt đối ngoại, các quốc gia có quyền thiết lập hay tham gia các quan hệ pháp luật quốc tế cụ thể, thực hiện mọi quyền hạn phù hợp với những nguyên tắc, quy phạm của luật quốc tế. Quốc gia hoàn toàn độc lập, không lệ thuộc vào bất kỳ chủ thể nào trong việc tham gia vào một quan hệ pháp luật quốc tế cụ thể. Việc ký kết các điều ước quốc tế, thiết lập quan hệ ngoại giao, lãnh sự hay gia nhập các tổ chức quốc tế… là những biểu hiện điển hình của việc thực hiện chủ quyền đối ngoại của quốc gia [18].
Chủ quyền trên biển của quốc gia Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 đã quy định rõ về 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vùng biển tiếp giáp lãnh thổ quốc gia ven biển gồm: vùng nội thủy; vùng lãnh hải; vùng tiếp giáp lãnh hải; vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Quốc gia ven biển có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển trên [15], cụ thể: Vùng nội thủy: Điều 8 khoản 1 UNCLOS quy định: “Nội thủy là các vùng nước phía trong của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải”. Luật Biển Việt Nam quy định: “Nhà nước thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ đối với nội thủy như trên đất liền” [28, Điều 9]. Nội thủy là một bộ phận lãnh thổ gắn bó mật thiết với phần lục địa của quốc gia ven biển, các vùng nước nội thủy được coi như lãnh thổ đất liền, tại đó quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ.
Chủ quyền này bao gồm cả vùng trời phía trên, vùng đáy biển và vùng lòng đất dưới đáy biển của vùng nước nội thủy. Đặc trưng cho tính chất quyền chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối này là mọi sự ra vào nội thủy của tàu thuyền cũng như phương tiện bay nước ngoài trên vùng trời nôi thủy đều phải xin phép. Thời gian xin phép đối với từng loại tàu do pháp luật của từng quốc gia quy định. Khi hoạt động trong nội thủy nếu tàu thuyền nước ngoài có sự vi phạm, quốc gia ven biển có quyền thực hiện quyền tài phán dân sự.
Đối với tàu thuyền được hưởng quyền miễn trừ như tàu thuyền nhà nước dùng vào mục đích phi thương mại và tàu thuyền quân sự nước ngoài khi có vi phạm, quốc gia ven biển có quyền buộc tàu thuyền đó rời khỏi vùng nội thủy của mình và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền quốc gia mà tàu mang cờ trừng trị các vi phạm đó. Quốc gia mà tàu mang cờ chịu trách nhiệm mọi thiệt hại do hành vi phạm pháp của tàu thuyền đó gây ra. Vùng lãnh hải: mỗi quốc gia đều có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của mình, chiều rộng này không vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở. Ranh giới ngoài của lãnh hải là đường chạy song song với đường cơ sở và cách đều 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đường cơ sở một khoảng cách tối đa là 12 hải lý.
Ranh giới ngoài của lãnh hải được coi là đường biên giới quốc gia trên biển. Chủ quyền lãnh hải không phải là tuyệt đối như trên các vùng nước nội thủy. Luật Biển Việt Nam quy định “Nhà nước thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải phù hợp với Công ước của LHQ về Luật biển 1982” [28, Điều 12]. Điều 17 UNCLOS cũng quy định quyền đi qua lại không gây hại của tàu thuyền nước ngoài ở lãnh hải.
Tuy nhiên pháp luật quốc gia ven biển quy định quyền qua lại không gây hại của tàu thuyền với những điều kiện cụ thể và phải tuân thủ pháp luật của quốc gia ven biển… Cần luu ý là quyền đi qua không gây hại không áp dụng đối với vùng trời trên lãnh hải. Phương tiện bay nước ngoài muốn bay qua vùng trời trên lãnh hải của một nước ven biển phải xin phép nước ven biển đó. Quốc gia ven biển có quyền thực hiện quyền tài phán của mình đối với một vụ vi phạm hình sự xảy ra trên con tàu khi nó đi qua lãnh hải và hậu quả của nó mở rộng đến quốc gia ven biển; vụ vi phạm đó có tính chất phá hoại hòa bình, an ninh trật tự của quốc gia ven biển; thuyền trưởng hay viên chức lãnh đạo của quốc gia mà tàu mang cờ yêu cầu. Bên cạnh đó, Công ước cũng quy định quyền của quốc gia ven biển áp dụng mọi biện pháp trừng phạt hoặc đảm bảo về mặt dân sự mà luật nước mình quy định đối với tàu đi qua lãnh hải sau khi rời khỏi nội thủy của quốc gia đó.
Vùng tiếp giáp lãnh hải: là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp giáp với lãnh hải, phạm vi của vùng tiếp giáp không vượt quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở. Trong vùng tiếp giáp lãnh hải quốc gia ven biển thực hiện các thẩm quyền có tính riêng biệt và hạn chế đối với các tàu thuyền nước ngoài. Vùng đặc quyền kinh tế: là vùng biển nằm ở phía ngoài vùng tiếp giáp lãnh hải, đặt dưới một chế độ pháp lý riêng, theo đó các quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển cũng như các quyền và các quyền tự do 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh. Quốc gia thực hiện các quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế theo quy định của UNCLOS và quy định của pháp luật quốc gia ven biển.
Chế độ pháp lý đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế thực hiện theo quy định pháp luật của từng quốc gia. Đối với Việt Nam, chế độ pháp lý đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế thực hiện theo điều 14, 16 luật biển Việt Nam. Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó có khoảng cách gần hơn. Trong trường hợp khi bờ ngoài của rìa lục địa của một quốc gia ven biển kéo dài tự nhiên vượt quá khoảng cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở; quốc gia ven biển này có thể xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa của mình tới một khoảng cách không vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2.500 m một khoảng cách không vượt quá 100 hải lý, phù hợp với các quy định cụ thể về việc xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa trong Công ước và phù hợp với các kiến nghị của Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa được thành lập trên cơ sở Phụ lục II của Công ước.
Quốc gia thực hiện các quyền thuộc chủ quyền của mình về thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên, đây là những quyền có tính chất đặc quyền của quốc gia, được quy định tại điều 79-Công ước luật biển và điều 18-luật biển Việt Nam.