CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ KIẾN TRÚC HIỆU NĂNGTRONG KIẾN TRÚC ĐƯƠNG ĐẠI 1. Giải thích các khái niệm liên quan đếnKiến trúc Hiệu năng Kiến trúc Hiệu năng là một khái niệm mới về kiến trúc trong bối cảnh kiến trúc đương đại. Là một sự thay đổi về định hướng nhìn nhận kiến trúc từ lý thuyết sang thực tế, từ cái mà kiến trúc được định nghĩa sang cái kiến trúc thực sự thể hiện. Thông thường để tìm hiểu, phân tích một công trình kiến trúc ta có hai cách: một là xem nó như là một vật thể ra đời từ quá trình thiết kế xây dựng để suy xét về mặt kỹ thuật, định lượng; hai là xem nó như một vật thể là đại diện cho các hoạt động sáng tạo và ý tưởng của con người để xem xét về mặt thẩm mỹ, định tính.
Mặc dù những cách đánh giá này sẽ giúp trình bày rõ ràng nguồn gốc, mục đích xây dựng cũng như giá trị của một công trình kiến trúc, nhưng việc quá tập trung vào kỹ thuật và vẻ đẹp thẩm mỹ của một công trình sẽ khiến nhìn nhận về kiến trúc của chúng ta bị hạn chế. Nhiều phương diện quan trọng của một công trình sẽ được nhìn nhận rõ nét hơn khi chúng ta tập trungtheo hướng vào những cái mà nó diễn tả, hay đúng hơn là khả năng biểu đạt của nó. NhưDavid Leatherbarrow5 đã từng viết về vấn đề này như sau: “giờ đây chúng ta sẽ tìm hiểu tiền đề về lý luận cũng như cách phân tích công trình kiến trúc theo một nhận định mới. Rủi ro của cách nhận định này chính là nó vượt ra ngoài cách phân tích chuẩn mực của lý trí.
Vì sẽ có nhiều cách biểu đạt của kiến trúc dựa vào những điều kiện mà có vẻ như chẳng thể suy nghĩ một cách lý trí được. Nhưng nó không có nghĩa là chúng ta không thể hiểu được, chỉ là chúng ta phải hiểu chúng theo một cách hoàn toàn khác”.7] Như vậy, để hiểu rõ hơn về Kiến trúc Hiệu năng, chúng ta cần phải tạm thời bỏ qua các nhận định truyền thống mà thay vào đó là nhìn nhận kiến trúc theo một cách mới hơn thông qua các khái niệm sau đây. 5 David Leatherbarrow: Xem mục 1. Sự biểu đạt – hiệu quả của kiến trúc (Architectural performance) Vào cuối thập niên 1950, khái niệm về tínhbiểu đạt – hiệu quả(performance)6 nổi lên, đặc biệt trong ngôn ngữ học và văn hoá nhân loại học cùng những lĩnh vực nghiên cứu khác.
“Khái niệm này đã thay đổi nhận thức văn hoá, nó quan niệm sự vật trong thế giới quan (dù tĩnh hay động) đều có tương tác với môi trường xung quanh qua nhiều giai đoạn có liên hệ mật thiết với nhau”.205] Trong kiến trúc thuật ngữ “Architectural performance”thật ra không quá mới. Nguồn gốc của loại kiến trúc này xuất hiện từ giữa thế kỷ 20 qua những dự án thiết kế của những người đi tiên phong trong ngành kiến trúc ở thập niên 1960 và 1970 như: “soft cities (thành phố mềm)” của Archigram, các công trình phỏng robot (robotic metaphors) và cảnh quan đô thị phỏng hữu cơ (quasi-organic), tất cảđã vẽ nên những hình ảnh giả tưởng dựa trên máy móc, thiết bị điện tửtrong nền văn hóa đương thời. Như vậy trong kiến trúc,chúng ta nên hiểu cụm từ “architectural performance” như thế nào cho đúng? Là xem công trình “diễn” vai gì, biểu đạt như thế nào hay phải xem công trình như một cỗ máy, một động cơ khổng lồ đang tự thân hoạt động như trong định nghĩa “nhà là cái máy để ở” của Le Corbusier7? Điều thú vị là trong Kiến trúc Hiệu năng cả hai cả hai lớp nghĩa trên đều đúng,một công trình với sự kết hợp của tính hiệu quả cùng với tính biểu đạt sẽ tạo ra một sản phẩm mới mang tính cách mạng (Lance Hosey8, 2010). Như vậy chúng tacó thể hiểu rằng “Architectural performance” là cách “diễn” của một công trình thông qua hoạt động và trải nghiệm của nó.
Như “diễn” vai một trường học, một căn bếp, một văn phòng,… Mặc dù trả lời như vậy cũng 6 Theo từ điển Oxford Mỹ từ “Performance” có thể hiểu theo hai nghĩa chính : một là sự trình chiếu, biểu diễn hai là hiệu suất hoạt động của một sự vật 7 Le Corbusier (6 tháng 10 năm 1887 – 27 tháng 8 năm 1965): là một kiến trúc sư người Thụy Sĩ và Pháp nổi tiếng thế giới. Ông là một trong những người đặt nền móng cho sự phát triển của trào lưu Kiến trúc hiện đại của thế kỉ 20 8 Lance Hosey: Kiến trúc sư, nhà nghiên cứu người Mỹ nổi tiếng với các đầu sách thúc đẩy phát triển bền vững trong thiết kế. Hiện nay ông là Giám đốc Phát triển bền vững với các công ty kiến trúc toàn cầu RTKL Associates. 10 có nhiều điểm hợp lý, nhưng việc để cuộc đời của một công trình dựa hoàn toàn vào công năng thì chỉ có thể được xem là “sự tồn tại nhất thời”9 vì tất cả mọi thứ liên quan tới công trình đó đều phụ thuộc vào mong muốn của chúng ta dành cho nó.
Nghĩa là công trình đó “là cái gì” thì sẽ do con người chúng ta quyết định cho nó thông qua công năng (như để ở thì là nhà, để học thì là trường,…) và quyết định này có thể sẽ thay đổi theo thời gian. Như Aldo Rossi10 đã nghiên cứuqua thuyết chức năng (functionalism),ông cho rằng công năng của một tòa nhà không cố định mà có thể thay đổi liên tục trong suốt cuộc đời của nó. Có khi một ngôi nhà dân có thể trở thành phòng mạch, một khu chung cư có thể biến thành rạp chiếu phim,… Chính vì vậy, theo AldoRossi, do công năng có thể biến đổi liên tục và không cố định nên không thể sử dụng nó để định nghĩa một công trình. Trong bài nghiên cứu, Aldo đã quyết định chọn định nghĩa công trình theo các thể loại (Type) của chúng.[9] Không thể chối cãi sự thật rằng một công trình được xây dựng là để phục vụ con người- như một nông trại để phục vụ cuộc sống của người nông dân, một trường học là để con người có chỗ học tập,… Hay tương tự như định nghĩa của Aristotle11 rằng một công trình kiến trúc là thứ để thể hiện sinh hoạt và cuộc sống của con người.
Như vậy, chúng ta đương nhiên không thể loại bỏ những yếu tố liên quan tới con người và công năng, rồi văn hóa, lịch sử,…khi phân tích một công trình. Nhưng liệu có một góc độ nhỏ nào đó, chúng ta có thể phân tích công trình theo hướng hoàn toàn không dính dáng gì tới việc con người là tác động lớn nhất tới bản chất của nó? Liệu khi chúng ta cắt đi sợi dây kết nối giữa con người và một công trình thì chúng ta sẽ có gì? Có phải chỉ con người chi phối đến công trình kiến trúc ? 9 Thuật ngữ "sự tồn tại nhất thời": (borrowed existence) có nguồn gốc từ Jean-LucMarion trong cuốn Excess: Studies of Saturated Phenomena” (tạm dịch : các nghiên cứu về hiện tượng bão hòa), (2002). Trong cuốn sách thuật ngữ này xuất hiện nhiều nhất ở chương 2 10 Aldo Rossi (03/05/1931 – 04/09/1997) là một kiến trúc sư nổi tiếng người Ý, ông đạt được sự công nhận quốc tế trong bốn lĩnh vực riêng biệt: lý thuyết, hội họa, kiến trúc và thiết kế sản phẩm 11 Aristoteles (384 – 322 TCN)là một nhà triết học và bác học và là một trong ba cột trụ của văn minh thời Hy Lạp cổ đại, học trò của Platon và thầy dạy của Alexandros Đại đế. Di bút của ông bao gồm nhiều lãnh vực.
Ông được xem là người đặt nền móng cho môn luận lý học. 11 Đây là câu hỏi rất đáng quan tâm vì thật ra có nhiều trường hợp công trình hoặc phòng ốc được xây xong rồi chúng ta mới quyết định nó sẽ là gì (tức là công trình tồn tại trước khi con người áp công dụng cho nó). Chưa kể, công trình cũng sẽ vẫn luôn tồn tại ở đó khi đã hoàn thành chức năng của người sử dụng (như một gia đình chuyển chỗở thì ngôi nhà vẫn ở đó, chuyển bệnh viện thì bệnh viện có mất đi nhưng tòa công trình vẫn sẽ còn tồn tại …)Nhưng khi chúng ta nhìn một tòa nhà bỏ hoang, chúng ta vẫn sẽ thấy nó vẫn sống mặc dù không hề liên quan tới con người và nó hoàn toàn không mang bất cứ định nghĩa nào mà con người gán ghép hay tự nó định nghĩa chính nó. Như vậy, Theo David Leatherbarrow:“architectural performance là một khái niệm mà sự hoạt động hay sự biểu đạt sẽ là yếu tố chủ chốt để định nghĩa một công trình hay nói cách khác là ta sẽ định nghĩa một công trình trước khi nó mang những định nghĩa có liên quan tới con người.
Hiệu ứng (Effects) và Hoạt động (Action) Như đã nói ở trên thông thường có hai cách để xem xét một công trình: cách thứ nhất là xem một công trình như nhữngthành phần được khởi nguồn từ những bản vẽ thiết kế và định hình sau khi được thi công. Cách thứ hai là xem một công trình thông qua những góc nhìn, những cảm nhận riêng của con người được khơi gợi bởi những hình thù kiến trúc của nó. Cả hai cách này, một cách xem kiến trúc như kết quả của tư duy về kỹ thuật và cách thứ hai xem kiến trúc là sự tư duy về thẩm mỹ. Xuyên suốt lịch sử, các nhà kiến trúc sư và nghiên cứu đã luôn tranh cãi về hai khía cạnh kỹ thuật và thẩm mỹ này.
Một nhóm cho rằng ít có sự liên kết giữa kỹ thuật và thẩm mỹ (những chi tiết đẹp, mang tính thẩm mỹ trong một công trình thường không mang tính công năng cao), một nhóm lại cho rằng yếu tố thẩm mỹ có thể liên kết, giúp bù đắp những thiếu sót của kỹ thuật trong việc thể hiện những chi tiết về văn hóa, lịch sử,…và điều này đã làm nảy sinh ra rất nhiều phong cách kiến trúc mới với các tiêu chí hướng hình thức hay hướng công năng. 12 Tuy nhiên đối với Kiến trúc Hiệu năng ta phải nghĩ theo một cách khác, thay vì tập trung vào các yếu tố trênta tập trung vào cách mà công trình đó “vận hành” và những “hiệu quả” mà nó tạo ra[11]. Những công trình đứng im gần như là thụ động, phải chăng chúng cũng có “cử động”, cũng có “biểu cảm” của riêng mình? Tòa nhà và người sử dụng phải chăng chỉ có một mối quan hệ một chiều? Phải chăng một công trình chỉ đứng im chờ đợi con người đến và sử dụng, chỉ sống khi chúng ta đặt chân vào nó? Vậy tại sao chúng ta đôi khi lại có cảm giác thân thuộc hay xa lạ, ấm cúng hay lạnh nhạt khi bước vào một công trình?