Luận văn kiến thức thái độ và thực hành phòng lây nhiễm hiv ở người dân tộc khơ me 15 49 tuổi tại hai xã tham đôn và đại tâm huyện mỹ xuyên tỉnh sóc trăng năm 2015

Bài viết phân tích kiến thức, thái độ và thực hành phòng lây nhiễm HIV ở người Khơ Me 15-49 tuổi tại xã Tham Đôn và Đại Tâm, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng năm 2015.

Trường đại học

Đại học Y tế Công cộng

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

89
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Kiến thức phòng lây nhiễm HIV

Nghiên cứu đánh giá kiến thức phòng lây nhiễm HIV của người Khơ Me 15-49 tuổi tại Sóc Trăng năm 2015. Kết quả cho thấy tỷ lệ hiểu biết đúng về các đường lây truyền HIV còn thấp, chỉ 36,8%. Đặc biệt, kiến thức về lây truyền từ mẹ sang con chỉ đạt 42,9%. Giáo dục sức khỏechương trình phòng chống HIV cần được tăng cường để nâng cao nhận thức cộng đồng.

1.1. Hiểu biết về đường lây truyền HIV

Người Khơ Me hiểu biết hạn chế về các đường lây truyền HIV, đặc biệt qua quan hệ tình dục không an toàn và dùng chung bơm kim tiêm. Nhận thức về HIV cần được cải thiện thông qua các chiến dịch truyền thông hiệu quả.

1.2. Ảnh hưởng của trình độ học vấn

Những người có trình độ học vấn cao hơn có kiến thức đúng về HIV nhiều hơn (p<0,001). Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng.

II. Thái độ đối với HIV

Nghiên cứu chỉ ra rằng thái độ đối với HIV của người Khơ Me còn nhiều hạn chế. Chỉ 37,9% có thái độ tích cực không kỳ thị người nhiễm HIV. Chiến lược phòng ngừa HIV cần tập trung vào việc thay đổi thái độ cộng đồng thông qua các chương trình tư vấn và giáo dục.

2.1. Kỳ thị và phân biệt đối xử

Tỷ lệ kỳ thị người nhiễm HIV còn cao, đặc biệt ở nhóm có trình độ học vấn thấp. Tư vấn và xét nghiệm HIV cần được mở rộng để giảm kỳ thị và nâng cao nhận thức.

2.2. Thái độ tích cực trong phòng ngừa

63,7% người tham gia có thái độ tích cực trong phòng ngừa lây nhiễm HIV. Tuy nhiên, cần tăng cường các hoạt động giáo dục để duy trì và phát triển thái độ này.

III. Thực hành phòng ngừa HIV

Thực hành phòng ngừa HIV của người Khơ Me còn nhiều bất cập. Chỉ 20,4% sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục gần nhất. Thực hành an toàn cần được cải thiện thông qua các chương trình can thiệp cụ thể.

3.1. Sử dụng bao cao su

Tỷ lệ sử dụng bao cao su thấp, đặc biệt ở nhóm đã kết hôn. Chương trình phòng chống HIV cần tập trung vào nhóm này để tăng cường thực hành an toàn.

3.2. Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành

Những người có kiến thức đúng về HIV có tỷ lệ thực hành an toàn cao hơn (p<0,001). Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao kiến thức phòng lây nhiễm HIV.

IV. Tình hình HIV tại Sóc Trăng

Tình hình HIV tại Sóc Trăng năm 2015 cho thấy số ca nhiễm mới tăng nhẹ, đặc biệt ở nhóm người Khơ Me. Đường lây truyền chính là qua quan hệ tình dục không an toàn (73,3%). Chiến lược phòng ngừa HIV cần tập trung vào nhóm nguy cơ cao và tăng cường các hoạt động giáo dục.

4.1. Đặc điểm dịch tễ

Số ca nhiễm HIV ở người Khơ Me chiếm 21,5% tổng số ca nhiễm tại Sóc Trăng. Giáo dục sức khỏechương trình phòng chống HIV cần được triển khai mạnh mẽ hơn.

4.2. Xu hướng lây nhiễm

Xu hướng lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục không an toàn đang gia tăng. Chiến lược phòng ngừa HIV cần tập trung vào việc thay đổi hành vi nguy cơ.

23/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thông tin chung về HIV 1. Một số khái niệm HIV và AIDS HIV (Human Immunodificiency Virus) là tên gọi tắt của một loại vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. Vi rút truyền từ người có HIV sang người chưa có HIV do có các hành vi nguy cơ trong quá trình sống của con người, như dùng chung bơm kim tiêm (BKT) hoặc quan hệ tình dục (QHTD) không dùng bao cao su (BCS) với người nhiễm HIV, hoặc từ mẹ nhiễm HIV truyền cho con trong quá trình mang thai, trong lúc sinh và cho con bú mẹ [4].

AIDS (Aquired Immunodeficiency Syndrome) là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV. Các đường lây truyền HIV Chỉ có người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS là nguồn lây truyền HIV duy nhất. Không có ổ chứa nhiễm trùng tự nhiên ở động vật như với đa số các dịch bệnh khác và trên thực tế chỉ có các đường làm lây truyền HIV sau: - Đường máu; - Đường tình dục; - Đường truyền từ mẹ sang con. Mọi sự tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch sinh dục của người mà ta không biết chắc chắn là người đó không nhiễm HIV đều có nguy cơ nhiễm HIV.

Tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác, giới tính, vị trí xã hội, nghề nghiệp…đều có thể bị nhiễm HIV nếu có hành vi không an toàn dù chỉ một lần trong cuộc sống [4]. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới HIV vẫn là một vấn đề sức khỏe cộng đồng trên toàn cầu với hơn 35, 3 triệu người đang sinh sống cùng HIV tính đến năm 2013 đây cũng là số liệu được cập nhật nhất hiện nay [34]. Trong đó, tỷ lệ nhiễm HIV ở Châu Phi thuộc tiểu Sahara cao nhất, chiếm 24, 7 triệu người. So với tổng số dân, tỷ lệ nhiễm HIV ở Châu Á có 5 vẻ thấp nhưng con số thực tế thì lại rất cao.

Theo uớc tính của UNAIDS, có 4,9 triệu nguời (dao động từ 4,5 triệu- 5,5 triệu) đang sống với HIV ở châu Á tính đến 2009, trong đó 360.000) mới phát hiện trong năm; xấp xỉ 300.000) chết vì các bệnh liên quan đến AIDS trong năm 2010 [33]. Mặc dù nhiều quốc gia châu Á đã đạt được các tiến bộ và các ca nhiễm mới đã có xu hướng giảm ở một số nuớc, hàng năm AIDS vẫn gây ra tử vong cho những người ở độ tuổi từ 15-44 nhiều hơn so với bệnh lao và các bệnh khác [28]. Bên cạnh đó, nhiễm HIV/AIDS xảy ra chủ yếu ở những người trẻ tuổi trong độ tuổi lao động, chiếm khoản 40% trong số nhiễm mới năm 2013[38]. Ngoài ra, tỷ lệ hiện nhiễm HIV khá cao trong quần thể NCMT, ở mức 9% nhóm nhỏ hơn 25 tuổi và 19% ở nhóm lớn hơn tại khu vực Châu Á[34].

Theo báo cáo của UNIAIDS năm 2009 thì hầu hết dịch tại các quốc gia đã có dấu hiệu chững lại. Không có quốc gia nào trong khu vực có dịch toàn thể. Thái Lan là nước duy nhất trong khu vực có tỷ lệ hiện nhiễm gần 1% và xét một cách tổng thể, dịch ở nước này cũng có dấu hiệu chững lại. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong số người trưởng thành là 1,3% trong năm 2009, và tỷ lệ nhiễm mới đã giảm xuống còn 0,1%.

Tại Cam-pu-chia, tỷ lệ hiện nhiễm ở người trưởng thành giảm xuống còn 0,5% trong năm 2009, giảm từ 1,2% trong năm 2001. Song tỷ lệ hiện nhiễm HIV lại đang gia tăng ở những quốc gia vốn có tỷ lệ hiện nhiễm thấp như Bangladesh, Pakistan (nơi tiêm chích ma túy là hình thái lây truyền HIV chính) và Philippin. Về hình thái nhiễm mới HIV ở châu Á, năm 2009 có 360.000 người mới nhiễm HIV, thấp hơn 20% so với 450. Tỷ lệ nhiễm mới giảm hơn 25% tại các nước Ấn Độ, Nepal và Thái Lan trong các năm từ 2001 đến 2009.

Dịch cũng chững lại tại Malaysia và Sri Lanka trong khoảng thời gian này. Tỷ lệ nhiễm mới tăng 25% ở Bangladesh và Philippin từ 2001 đến 2009 dù dịch tại các nước này vẫn ở mức thấp. Hình thái lây truyền HIV tại châu Á vẫn chủ yếu tập trung ở nhóm người tiêm chích ma túy, người bán dâm, khách làng chơi, và nam quan hệ tình dục đồng giới. Các hình thái nhiễm mới có thể rất khác nhau tại những quốc gia rộng lớn như Ấn Độ.

Khoảng 90% số người nhiễm mới HIV tại Ấn Độ được cho là đã lây nhiễm từ việc quan hệ tình dục không an toàn, song việc thường xuyên có 2 hoặc hơn 2 người sử dụng chung bơm kim 6 tiêm mới là hình thái lây truyền HIV chính tại các bang đông bắc của quốc gia này[37]. Tình hình nhiễm HIV trong nước Ở nước ta, tính từ ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào năm 1990, đến nay tất cả các tỉnh thành trên cả nước đều đã ghi nhận các trường hợp nhiễm HIV với ước tính khoảng 248.500 người nhiễm HIV trên toàn quốc vào năm 2011 và tiếp tục tăng lên 263.500 người vào năm 2015[3]; 98% quận/huyện và hơn 78% xã/phường và 63/63 tỉnh/ thành phố đã có báo cáo về các trường hợp nhiễm HIV [5]. Dịch HIV ở Việt Nam vẫn còn đang tập trung trong nhóm nguy cơ cao như NCMT, PNMD, MSM nhưng kết quả giám sát trọng điểm hàng năm cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV có chiều hướng gia tăng ở nhóm nguy cơ thấp như phụ nữ mang thai(PNMT)[5]. Trong thời gian gần đây, bạn tình của người nghiện chích ma túy được đưa vào quần thể có nguy cơ mới, việc gia tăng các trường hợp phụ nữ nhiễm HIV mới được báo cáo, chiếm đến 32, 5% số ca nhiễm mới trong năm 2013, phản ánh sự lây truyển từ nam giới có hành vi nguy cơ cao sang bạn tình của họ.

Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT đang giảm dần (11%), tuy nhiên tại một số tỉnh có thực hiện giám sát thì tỷ lệ này lại cao ở mức đáng báo động. Theo kết quả giám sát trọng điểm năm 2013 thì tỷ lệ hiện nhiễm đặc biệt cao ở Thái Nguyên (34%), Lai Châu (27, 7%), Hà Nội (24%), Quảng Ninh (22, 4%) và Thành phố Hồ Chí Minh (18, 2%). Đối với nhóm PNMD thì tỷ lệ này là 2, 6%. Tuy nhiên tại một số nơi như Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ thì tỷ lệ này lại cao hơn 10%.

Nhóm MSM theo giám sát trọng điểm cũng cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm trung bình trong nhóm này là 3, 7%. Với số lượng NCMT, PNMD và MSM tại các khu vực là khác nhau, nên nguy cơ lây nhiễm phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong các nhóm này và số lượng nhiễm HIV ở mỗi khu vực. Tình hình nhiễm HIV tại tỉnh Sóc Trăng Theo dõi tình hình nhiễm HIV từ năm 2010 đến 2014, cho thấy số ca nhiễm HIV phát hiện hàng năm cao nhất là vào năm 2011 và có chiều hướng giảm dần 7 theo các năm tiếp theo. Tuy nhiên, số ca nhiễm HIV lại có xu hướng tăng nhẹ trở lại trong năm 2014 (từ 159 ca năm 2010 lên 170 ca năm 2014)[24].

Tình hình nhiễm HIV trong 06 tháng đầu năm 2014 tăng 42, 2% so với cùng kỳ (hơn 30 ca). Tỷ lệ hiện nhiễm HIV tại tỉnh Sóc Trăng tính đến tháng 06 năm 2014 là 1.910 ca, đứng thứ 31 so với cả nước và đứng thứ 14 trong 20 tỉnh phía Nam. Hình thái lây nhiễm chủ yếu qua đường tình dục (71, 3%), mẹ truyền sang con (1,98%), còn lại 19,8% là không rõ đường lây truyền. Tỷ lệ nhiễm HIV theo nhóm tuổi chủ yếu tập trung vào nhóm tuổi 15-49 chiếm 93% (trong đó nhóm 25-49 chiếm tỷ lệ cao nhất 76%, đây chính là nhóm tuổi thuộc lao động chủ lực cũng như đang trong độ tuổi có nhu cầu sinh hoạt tình dục cao nhất), dưới 15 tuổi chiếm 4% và trên 49 tuổi chỉ chiếm 3% [24].

Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành trong và ngoài nước 1. Các nghiên cứu nước ngoài Các nghiên cứu trên thế giới đánh giá KAP cho thấy họ sử dụng bộ công cụ gồm những tiêu chí về cách nhận biết các đường lây truyền để đánh giá kiến thức; thái độ đối với những quan niệm sai lầm để đánh giá thái độ và quan hệ tình dục có hoặc không có sử dụng bao cao su với các loại bạn tình để đánh giá thực hành. Như nghiên cứu về mối liên quan giữa AIDS với kiến thức, thái độ, thực hành: khảo sát tại 6 thành phố của Trung Quốc vào năm 2008 với 6.382 trường hợp được phỏng vấn, mỗi 1000 trường hợp cho một thành phố thì thấy rằng 52,3% số người được hỏi xem tình hình HIV / AIDS hiện nay của Trung Quốc là "nghiêm trọng" hoặc "rất nghiêm trọng"; mười ba câu hỏi khảo sát được sử dụng để xác định kiến thức về đường lây truyền thì tỷ lệ trả lời đúng trung bình là 80,9%. Đối với bốn đường lây truyền HIV: quan hệ tình dục, truyền máu, dùng chung kim tiêm và từ mẹ sang con với tỷ lệ trả lời đúng là trên 90%; tuy nhiên, hơn 48% số người được hỏi nghĩ rằng họ có thể bị lây nhiễm HIV khi bị muỗi cắn, và hơn 18% cho rằng họ có thể bị lây nhiễm HIV nếu người nhiễm HIV hắt hơi hay ho lên họ.

30% số người được hỏi nghĩ rằng học sinh/ trẻ em nhiễm HIV không nên được phép theo học tại các trường; gần 48% người được phỏng vấn sẽ không thích ăn với người nhiễm HIV; 65% sẽ không thích sống với người bị nhiễm HIV, và 63,4% sẽ không chấp 8 nhận các dịch vụ như làm tóc của một người bệnh. 10,7% đã có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân trong 6 tháng qua; 42,0% đã không được sử dụng bao cao su trong lần QHTD gần đây nhất.[36] Nghiên cứu đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành về HIV của người dân sinh sống tại khu ổ chuột Chennai, Bombay, Ấn Độ năm 2006 trên 650 đối tượng. Có 20% nam và 11% nữ không biết gì về AIDS; chỉ có 67% nam và 55% nữ biết được HIV có thể lây truyền qua đường tình dục. Có 34% nam và 50% nữ cho rằng AIDS là bệnh di truyền.

Đồng thời tỷ lệ nam, nữ nghĩ rằng HIV có thể lây truyền qua không khí và muỗi đốt lần lượt chiếm tỷ lệ 45% đối với nam và 62% đối với nữ. Chỉ có 30% nam và 22% nữ biết các dấu hiệu của bệnh AIDS. 30% nam và 45% nữ không biết rằng sử dụng chung BKT có thể là một trong những nguy cơ làm lây truyền HIV[30].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Kiến thức, thái độ và thực hành phòng lây nhiễm HIV ở người Khơ Me 15-49 tuổi tại Sóc Trăng năm 2015 là một nghiên cứu quan trọng nhằm đánh giá hiểu biết, thái độ và hành vi của cộng đồng người Khơ Me trong việc phòng ngừa lây nhiễm HIV. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phòng chống HIV tại địa phương, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả phòng ngừa. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu và cộng đồng quan tâm đến sức khỏe cộng đồng và công tác phòng chống HIV/AIDS.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe cộng đồng liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thực trạng tự kỳ thị và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đang điều trị HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú huyện Đông Anh Hà Nội năm 2017, nghiên cứu này cung cấp thêm góc nhìn về tâm lý và xã hội của bệnh nhân HIV. Ngoài ra, Luận văn thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em từ 25 đến 60 tháng và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao tỉnh Lào Cai cũng là một tài liệu đáng quan tâm, giúp hiểu rõ hơn về các vấn đề sức khỏe cộng đồng ở vùng sâu vùng xa. Cuối cùng, Luận văn đánh giá chất lượng nước sông Nhuệ Đáy đoạn chảy qua địa phận thành phố Hà Nội năm 2016-2017 cung cấp thông tin về môi trường sống và sức khỏe cộng đồng, một yếu tố không thể bỏ qua trong các nghiên cứu liên quan.