Chương i - 7 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những vấn đề cơ bản về kiểm toán kinh tế và kiểm toán nội bộ tronghoạt động ngân hàng thương mại. Cơ sở lý luận chung về kiểm toán 1. Sự hình thành và phát triển của toán trên thế giới và ở Việt nam. Kiểm toán là hoạt động khá mới mẻ ở Việt Nam.
Trên thế giới, kiểm toán đã xuất hiện trong xã hội loài người từ rất lâu, vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên. Thuật ngữ “Audit”có một ý nghĩa lịch sử và phù hợp với hoàn cảnh ra đời của nó, vào thời kỳ đó chính quyền La-Mã đã tuyển dụng các quan chức chuyên môn để kiểm tra về tình hình tài chính và thuyết trình lại kết quả kiểm tra này. Chính vì vậy từ “Audit” theo tiếng La- Tinh có nghĩa là “người nghe” (one who hears). Kiểm toán đã dần hình thành và gắn liền với sự phát trển của kế toán.
Và trong suốt thời kỳ trung đại đến trước khi cuộc cách mạng công nghiệp ra đời, kiểm toán thực sự chỉ giới hạn ở việc xác định xem liệu cá nhân giữ trọng trách trong một tổ chức hoạt động kinh doanh hoặc trong chính phủ có thực hiện đúng trách nhiệm và có báo cáo đúng sự thật không. Trong suốt thời kỳ cách mạng công nghiệp, số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tăng mạnh về quy mô, người chủ sở hữu vốn, tài sản bắt đầu phải đi thuê các nhà quản lý cho các chi nhánh, cơ sở của mình. Với sự tách biệt về chủ sở hữu và việc quản lý nên phải tăng cường kiểm tra để bảo vệ tài sản của họ, nhằm chống lại nguy cơ sai phạm không chủ đích hoặc những gian lận do người quản lý và nhân viên làm công gây ra. Các chủ nhà băng với tư cách là người bên ngoài, sử dụng các báo cáo tài chính, khi cho vay tiền cũng chú ý đến việc xem xét các báo cáo tài chính có bị lệch lạc do sai phạm và gian lận không? Từ những năm 1930, sự phá sản của các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp trong điều kiện khủng hoảng kinh tế, suy thoái về tài chính, là dấu hiệu chứng minh điểm yếu của kế toán và kểm tra trước tình hình mới.
Kiểm toán viên trở nên có trách nhiệm hơn với các cơ quan chức năng của Chính phủ, Sở giao dịch chứng khoán, các nhà đầu tư cũng như các bên khác sử dụng thông tin tài chính. Sự trung thực của báo cáo tài chính trở thành vấn đề tiên quyết có tầm quan trọng to lớn trong qúa trình lựa chọn các quyết định đầu tư tài chính. Khi các doanh nghiệp ngày càng có quy mô lớn, ở Ca-na-da, Anh, Mỹ. kiểm toán viên bắt đầu thực hiện lựa chọn mẫu các nghiệp vụ hơn là kiểm tra các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Kiểm toán viên và các nhà quản lý dần dần đi đến một chấp nhận chung mà một cuộc kiểm tra kỹ lưỡng các nghiệp vụ theo chọn mẫu sẽ đưa ra các chỉ số tin cậy, có hiệu quả về sự - 8 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính xác của các nghiệp vụ tương tự đã được phản ánh trong các báo cáo tài chính. ở Mỹ, sau cuộc khủng hoảng nặng nề về tài chính vào 1929, bắt đầu từ năm1934, Uỷ ban bảo vệ và trao đổi tền tệ (SEC) đã được thành lập và quy chế về kiểm toán viên bên ngoài bắt đầu có hiệu lực. Đồng thời, trường đào tạo kế toán viên công chứng của Mỹ (AICPA) đã in ra mẫu chuẩn đầu tiên về baó cáo kiểm toán tài khoản của công ty. Từ những năm 1950, xuất hiện nhiều tổ chức kiểm toán của Chính phủ trong các lĩnh vực quân đội, hành chính và các xí nghiệp công cộng.
Một tổ chức quan trọng là văn phòng kế toán trưởng (GAO: GERNERAL ACCOUNTING OFFICE) đã có vai trò quyết định trong việc mở rộng phạm vi kiểm toán. Chuẩn mực GAO vào năm 1972 (rà soát lại năm 1981), một mặt đã khẳng định lợi ích kiểm toán trong khu vực phi thương mại, mặt khác đã khẳng định quan điểm chuẩn mực và phương pháp mới để đánh giá hiệu quả của các nghiệp vụ phi thương mại. Đạo luật về công ty thương mại của Pháp ngày 24-7-1966, đã xác định công việc và các chuẩn mực hoạt động của kiểm toán viên bên ngoài một cách độc lập. Đồng thời, kiểm toán viên nội bộ cũng đã xuất hiện một cách chính thức ở Pháp vào năm 1960.
Trong các Công ty, chi nhánh của các tập đoàn ngoại quốc và các tổ chức Ngân hàng và được phát triển cùng với sự mở rộng quy mô của các công ty nhằm tăng cường sự ổn định và hiệu quả của các xí nghiệp. Năm 1965, hội kiểm soát viên nội bộ của Pháp được thành lập, sau trở thành viện nghiên cứu của kiểm toán viên và kiểm soát viên nội bộ của Pháp (IFACI) vào năm 1973. Trong lĩnh vực công cộng, kiểm toán cũng có nhiều bước phát triển. Lúc đầu, kiểm toán nằm trong Uỷ ban đối chiếu tài khoản của các xí nghiệp công, đến năm 1976, Toà thẩm kế công bố đạo luật tài chính sửa đổi ngày 22-6-1976, giao việc đối chiếu các tài khoản và quản lý các xí nghiệp công.
ở Việt Nam, kiểm toán còn là hoạt động rất mới mẻ. Khái niệm kiểm toán mới chỉ được nhắc đến nhiều và sử dụng từ đầu thập niên 90 của thế kỷ 20. Sau khi Việt Nam chuyển đổi cơ chế kinh tế, kiểm toán độc lập đã được hình thành. Sau đó kiểm toán Nhà nước cũng được thành lập.
Tuy nhiên, tiền thân của hoạt động này là kiểm tra kế toán đã có từ ngày thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Ngày 23-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh 64/SL thành lập tổ chức thanh tra đặc biệt trực thuộc Chính phủ, tiếp đó là sắc lệnh 57/SL ngày 4-6-1946 quy định tổ chức bộ máy các bộ, mà trong đó lập ra các ban thanh tra. Sắc lệnh 76/SL ngày - 9 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 25-8-1946 về tổ chức bộ máy tài chính và nha thanh tra tài chính thuộc bộ, khi đó đã quyết định nhiệm vụ của cơ quan tài chính. Hoạt động kiểm toán ra đời và phát triển gắn liền với bước trưởng thành của kế toán Việt Nam trong cơ chế thị trường.
Năm 1989, trước nhu cầu biến đổi có tính chất cách mạng trong cơ chế quản lý, cơ chế kinh tế của đất nước, sự thừa nhận một cách tất yếu của nền sản xuất hàng hoá, kinh tế thị trường và một cách quản lý tương đối phù hợp với nó, trong đó có việc sử dụng ngày càng hiệu quả các công cụ hạch toán và kiểm tra, kiểm soát, chế độ kế toán mới đã được ban hành thay thế cho chế độ kế toán cũ đã lạc hậu. Thực tế, từ năm 1989 đến năm 1990, Bộ tài chính kết hợp với một số ngành hữu quan lần lượt cải tiến và ban hành một hệ thống các chế độ và văn bản pháp quy về kế toán mới theo tinh thần kế thừa thành tựu của các chế độ kế toán trước đây. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số nhược điểm của chế độ ban hành năm 1989, chưa bắt kịp với tình hình phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Do vậy, sau một thời gian soạn thảo, nghiên cứu và thử nghiệm, tháng 12-1995, Thủ tướng Chính phủ cho phép Bộ tài chính ban hành hệ thống kế toán tài chính doanh nghiệp, hệ thống kế toán tài chính này bước đầu đã đáp ứng được yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước.
Đồng thời hoà nhập được thông lệ phổ biến của kế toán quốc tế, có tính đến điều kiện của Việt Nam. Trong thời gian này, hệ thống kế toán ngân hàng, mà trước hết là kế toán của ngân hàng Nhà nước cũng được đổi mới căn bản phù hợp với yêu cầu của Ngân hàng thế giới (WORLD BANK-WB) và quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF). Trong điều kiện đó, kiểm toán cũng có điều kiện xuất hiện như một tất yếu khách quan, công tác nội kiểm và kiểm toán đã thể hiện những hạn chế lịch sử của nó, một chủ thể kiểm tra tách ra, đứng độc lập với hệ thống tài chính, kế toán để giám định trở lại, qúa trình kiểm toán phải được hình thành và phát triển theo đúng ý nghĩa, bản chất của nó, và cần có một hệ thống tổ chức thích đáng. Cho đến nay, hoạt động kiểm toán đã dần đi đúng quỹ đạo của nó và phát triển rất mạnh ở hầu khắp các nước trên thế giới.
Hiện nay, trên thế giới có những hãng kiểm toán, liên đoàn, Hội kiểm toán xuyên Quốc gia như: cơ quan kiểm toán tối cao Châu á ( ASOSAI), cơ quan kiểm toán tối cao Quốc tế (INTOSAI), và INCOSAI, hoạt động nổi tiếng vì đạt đến chuẩn mực nghiệp vụ, và kỹ năng nghề nghiệp trong kiểm toán. Việt Nam đang trên con đường phát triển đất nước tiến tới hiện đại hoá - công nghiệp hoá, công tác kiểm toán cần được tăng cường và phát huy vai trò của nó, việc học hỏi kinh nghiệm kiểm toán của các tổ chức kiểm toán phát triển - 10 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trên thế giới là một việc làm thiết thực, đưa kinh tế Việt Nam phát triển, hoà nhập với nền kinh tế thế giới. Bản chất của kiểm toán. - Khái niệm kiểm toán: Theo tác giả ALVIN AREN và JAMES K.
LOE Bbecker, phát biểu trong giáo trình kiểm toán hiện đại của mình: "Kiểm toán là quá trình mà theo đó một cá nhân độc lập, có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng có liên quan đến một tổ chức kinh tế cụ thể, nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa các thông tin số lượng đó với các chuẩn mực đã được thiết lập ". Còn theo liên đoàn kế toán Quốc tế (IFAC) đã định nghĩa: “Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về bản báo cáo tài chính”.