Đặt vấn đề Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường thì nhu cầu thông tin đóng vai trò hết sức quan trọng cho mọi đối tượng vì nó là cơ sở để đưa ra các quyết định. Đối với doanh nghiệp thì thông tin tài chính luôn được nhiều đối tượng quan tâm với nhiều mục đích khác nhau nhưng tất cả đều mong muốn những thông tin đó đều trung thực và hợp lý đảm bảo cho việc đưa ra các quyết định đúng đắn và đem lại hiệu quả cao. Nhưng những thông tin trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp không phải lúc nào cũng được trình bày và phản ánh một cách trung thực về kết quả kinh doanh cũng như thực trạng vốn của nó. Vì vậy, các thông tin trên BCTC phản ánh muốn có được độ tin cậy cao thì nó cần phải được kiểm tra và xác nhận.
Trước những đòi hỏi này, hoạt động kiểm toán đã ra đời để đáp ứng các yêu cầu trên, trong đó phải kể đến các tổ chức kiểm toán độc lập đã có những đóng góp lớn trong nền kinh tế với việc cung cấp dịch vụ kiểm toán và tư vấn tài chính cho những người quan tâm đến số liệu tài chính. Chính nhờ hoạt động kiểm toán độc lập đã giúp cho các đối tượng quan tâm có được những thông tin trung thực, hợp lý, khách quan và có độ tin tưởng cao. Ngoài ra, thông qua hoạt động này mà môi trường kinh doanh trở nên lành mạnh và đây cũng là công cụ hữu ích để Nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Chu trình bán hàng – thu tiền là giai đoạn cuối cùng trong một chu trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh hiệu quả của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Kết quả của giai đoạn này thể hiện trên BCTC là những chỉ tiêu quan trọng của doanh nghiệp, thu hút sự quan tâm của nhiều người sử dụng thông tin BCTC. Chính vì vậy, kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền có ý nghĩa rất lớn trong kiểm tooán BCTC của 1 các công ty kiểm toán, giúp KTV hạn chế được những rủi ro xảy ra, nâng cao hiệu quả cuộc kiểm toán. Tuy nhiên, đối với các công ty kiểm toán độc lập hiện nay, với đặc thù thực hiện việc cung cấp dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng, rủi ro về việc đưa ra ý kiến không thích hợp khi đối tượng kiểm toán chứa đựng những sai phạm trọng yếu (rủi ro kiểm toán) là điều thường gặp. Với một ngành dịch vụ được kỳ vọng tạo niềm tin cho những người quan tâm đến thông tin tài chính thì uy tín và giá trị của báo cáo kiểm toán, thương hiệu của công ty kiểm toán là đặc biệt quan trọng.
Một khi rủi ro kiểm toán cao tất yếu sẽ dẫn đến gia tăng rủi ro kinh doanh mà công ty kiểm toán gặp phải. Vì vậy, KTV và công ty kiểm toán cần áp dụng những kỹ thuật và thủ tục kiểm toán để có thể thu thập được các bằng chứng, làm cơ sở hình thành nên ý kiến kiểm toán với mức độ rủi ro cho phép. Sử dụng các thủ tục này sẽ giúp cho KTV phát hiện các gian lận sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính thông qua việc phân tích các thông tin tài chính và thông tin phi tài chính. Thủ tục này cũng giúp KTV giảm bớt gánh nặng chọn mẫu trong kiểm tra chi tiết, làm cho cuộc kiểm toán có hiệu quả hơn.
Điều này có thể được hiểu là nếu áp dụng càng nhiều các thủ tục kiểm toán thì KTV càng có thể hạn chế được các loại rủi ro. Tuy nhiên, các thủ tục này lại chịu ảnh hưởng bởi chi phí và thời gian của các cuộc kiểm toán. Vì vậy, KTV và các công ty kiểm toán cần cân nhắc giữa chi phí và lợi ích mà các thủ tục có thể đem lại, từ đó nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong tình hình môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực kiểm toán ngày càng trở nên khốc liệt. Nhận thức được tầm quan trọng của kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền nói riêng và kiểm toán báo cáo tài chính nói chung, sau khoảng thời gian thực tập tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn tài chính châu Á (FADACOM) – Chi nhánh miền Bắc, em đã quyết định chọn đề tài “ Kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền trong kiểm toán tài chính do Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn tài chính châu Á (FADACOM)– Chi nhánh miền Bắc thực hiện” để làm luận văn tốt nghiệp của mình.
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng quy trình kiểm toán về bán hàng – thu tiền do công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn tài chính châu Á - Chi nhánh miền Bắc thực hiện. Mục tiêu cụ thể: - Hệ thống hóa cơ sở các lý luận về kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền. - Tìm hiểu thực trạng kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền của Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn tài chính châu Á – Chi nhánh miền Bắc. - Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền do Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn tài chính châu Á – Chi nhánh miền Bắc thực hiện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng: Quy trình kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền do Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn tài chính châu Á – Chi nhánh miền Bắc thực hiện. Phạm vi không gian: Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn tài chính châu Á – Chi nhánh miền Bắc. Phạm vi thời gian: từ ngày 26/08/2020 đến ngày 31/12/2020. 3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.
Kiểm toán báo cáo tài chính 2. Khái niệm kiểm toán Báo cáo tài chính Kiểm toán BCTC là việc kiểm tra và đưa ra ý kiến của các KTV có năng lực về sự trình bày trung thực và hợp lý của BCTC của mỗi đơn vị theo tiêu chuẩn và chuẩn mực đã được thiết lập. Do BCTC bắt buộc phải được lập theo các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, nên chuẩn mực và chế độ kế toán được sử dụng làm thước đo trong kiểm toán BCTC. Kết quả kiểm toán sẽ phục vụ cho đơn vị, Nhà nước và bên thứ ba trong việc đưa ra các quyết định đầu tư kinh doanh.
Mục tiêu kiểm toán BCTC Mục tiêu kiểm toán BCTC theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200 được thể hiện qua hai ý chính: - Giúp cho KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến về việc liệu BCTC cóđược lập trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng hay không. (Nguyễn Đình Hựu, 2012) - Giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị. Đối tượng của kiểm toán BCTC Đối tượng của kiểm toán BCTC là các bảng khai tài chính. Bộ phận quan trọng của bảng khai tài chính là BCTC.
Theo chuẩn mực số 200 điểm 04 – BCTC là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành phản ánh các thông tin tài chính chủ yếu của đơn vị. BCTC gồm có bảng 4 CĐKT, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo Lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh BCTC. Ngoài ra còn có một số bộ phận khác của bảng khai tài chính là các bảng kê có tính hợp lý khác như bảng kê khai tài sản đặc biệt, bảng kê khai tài sản cá nhân, bảng dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước,… 2. Quy trình kiểm toán BCTC Kiểm toán BCTC cũng tuân thủ chuẩn mực chung của một cuộc kiểm toán, bao gồm những bước sau đây: Bước 1: Lập kế hoạch kiểm toán Đây là công việc đầu tiên mà các KTV cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán.
Thực hiện bước này góp phần giúp KTV thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp, tránh những bất đồng với khách hàng đồng thời tạo điều kiện cho việc kiểm soát chi phí kiểm toán hợp lý. Các phần công việc chính trong lập kế hoạch kiểm toán: - Chuẩn bị cho lập kế hoạch kiểm toán. - Thu thập thông tin cơ sở. - Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng.
- Thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ. - Thiết lập mức trọng yếu, đánh giá rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận và rủi ro tiềm tàng. - Tìm hiểu hệ thống KSNB và đánh giá rủi ro kiểm soát. - Phát triển kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán.
Bước 2: Thực hiện kiểm toán 5 Thực hiện kiểm toán là quá trình triển khai một cách chủ động và tích cực các kế hoạch, chương trình kiểm toán nhằm thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán đáng tin cậy để đưa ra ý kiến về tính trung thực hợp lý của các thông tin trên BCTC. Giai đoạn này KTV thường thực hiện các thủ tục kiểm soát như sau: - Thực hiện các khảo sát kiểm toán nếu KTV tin ằng kết quả khảo sát cho phép đánh giá một mức độ thấp hơn về rủi ro kiểm soát so với mức đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát và thực hiện các khảo sát cơ bản đối với các nghiệp vụ. - Thực hiện các thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết các số dư cũng như thực hiện các kiểm tra chi tiết bổ sung. Bước 3: Kết thúc kiểm toán Những nội dung chủ yếu của giai đoạn này gồm: - Soát xét những khoản nợ tiềm ẩn.
- Soát xét các sự kiện sau phát sinh. - Thu thập những bằng chứng cuối cùng. - Đánh giá kết quả, xác định loại báo cáo kiểm toán phù hợp. - Phát hành báo cáo kiểm toán.
Tổng quan chung về chu trình bán hàng – thu tiền. Vị trí của kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền trong kiểm toán Báo cáo tài chính Đối với mỗi doanh nghiệp sản xuất, quá trình sản xuất kinh doanh thể hiện sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Quá trình này bao gồm các hoạt 6 động nối tiếp liên tục thành vòng tròn tuần hoàn, lặp đi lặp lại tạo nên chu kỳ sản xuất. Theo cách nhìn của các nhà quản lý trên góc độ tài chính, quá trình này bao gồm rất nhiều các chu trình nghiệp vụ cụ thể, mỗi chu trình nghiệp vụ lại được cấu thành bởi tập hợp những nghiệp vụ kinh tế có liên quan chặt chẽ với nhau.