Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn: Kinh nghiệm từ Anh, EU, Singapore và giải pháp cho Việt Nam

Phân tích pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn tại Anh, EU, Singapore. Rút ra kinh nghiệm và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật cho Việt Nam.

Chuyên ngành

Luật Môi Trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Bài Nghiên Cứu

2023

77
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng ô nhiễm tiếng ồn tại Việt Nam và tầm quan trọng của kiểm soát

Với sự phát triển kinh tếđô thị hóa nhanh chóng, các thành phố lớn tại Việt Nam đang đối mặt với thách thức nghiêm trọng về ô nhiễm tiếng ồn. Vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng mà còn gây tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống. Mặc dù pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính, nhưng thực tiễn xử lý vẫn chưa đạt hiệu quả mong muốn. Sự thiếu sự phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương khiến việc kiểm soát tiếng ồn trở nên kém hiệu quả. Những hạn chế này đòi hỏi cần có giải pháp tổng thể, học hỏi từ kinh nghiệm quốc tế của các nước phát triển như Anh, EU và Singapore.

1.1. Khái niệm và phân loại ô nhiễm tiếng ồn

Ô nhiễm tiếng ồn là sự vượt quá chuẩn tiếng ồn cho phép gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người và môi trường. Tiếng ồn được phân loại thành nhiều loại: ô nhiễm tiếng ồn giao thông từ phương tiện cơ giới, ô nhiễm tiếng ồn công nghiệp từ các nhà máy, ô nhiễm tiếng ồn xây dựng từ hoạt động thi công, và ô nhiễm tiếng ồn sinh hoạt từ các hoạt động hàng ngày. Mỗi loại đều có mức độ ảnh hưởng khác nhau và yêu cầu các biện pháp kiểm soát riêng biệt.

1.2. Hậu quả sức khỏe và môi trường

Tiếng ồn kéo dài có thể gây ra mất ngủ, căng thẳng, suy giảm khả năng tập trungcác bệnh tim mạch. Ở Việt Nam, tần suất phơi nhiễm với tiếng ồn vượt chuẩn đang tăng lên do giao thông đô thị phức tạp. Các công trình nghiên cứu cho thấy cần có chiến lược quản lý tiếng ồn toàn diện nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng và cải thiện chất lượng môi trường.

II. Kinh nghiệm kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn từ các quốc gia phát triển

Các quốc gia như Anh, Liên minh châu Âu (EU)Singapore đã xây dựng hệ thống pháp luật tiên tiến để kiểm soát tiếng ồn. Anh áp dụng Environmental Protection Act 1990 với những quy định chi tiết về cấp độ tiếng ồn cho phép. Liên minh EU đã ban hành Chỉ thị END - một khuôn khổ pháp lý toàn diện cho quản lý tiếng ồn môi trường. Singapore thực hiện quy định nghiêm ngặt về tiếng ồn trong lĩnh vực xây dựng, giao thôngcông nghiệp. Những quốc gia này chứng minh rằng việc xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc, kết hợp với thực thi hiệu quả có thể giảm thiểu đáng kể mức độ ô nhiễm tiếng ồn.

2.1. Mô hình pháp luật của Anh và EU

Environmental Protection Act 1990 của Anh cung cấp khuôn khổ pháp lý cho việc xử lý tiếng ồn thông qua các cơ quan địa phương. Chỉ thị END của EU yêu cầu các thành viên phải lập bản đồ tiếng ồn, xác định khu vực yên tĩnhthực hiện kế hoạch hành động giảm tiếng ồn. Cách tiếp cận này đã chứng minh hiệu quả cao trong việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn trên các lão địa.

2.2. Chiến lược của Singapore

Singapore áp dụng quy định tiếng ồn tương ứng từng hoạt động: giật cắt thi công, giới hạn giờ làm việc, và sử dụng thiết bị kỹ thuật cao. Quan trắc định kỳ tiếng ồnphạt vi phạm hành chính nặng là những biện pháp đảm bảo tuân thủ pháp luật. Kinh nghiệm Singapore cho thấy sự phối hợp liên ngànhtham gia cộng đồng rất quan trọng.

III. Hạn chế của pháp luật hiện hành tại Việt Nam

Pháp luật Việt Nam về ô nhiễm tiếng ồn mặc dù đã có quy định chi tiết nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Hệ thống văn bản quy phạm được ban hành rải rác và chưa được tổng hợp hiệu quả. Phân công, phân cấp trách nhiệm về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn giữa các bộ ngành và địa phương vẫn chưa rõ ràng. Sự phối hợp giữa trung ương và địa phương còn hạn chế, dẫn đến những lỗ hổng trong thực thi pháp luật. Ngoài ra, sự kết nối giữa cơ quan quản lýcộng đồng dân cư chưa đủ mạnh mẽ, khiến việc giải quyết khiếu nại về tiếng ồn gặp khó khăn.

3.1. Những bất cập trong cơ chế quản lý

Quy chuẩn kỹ thuật tiếng ồn tại Việt Nam chưa được áp dụng đồng bộ trên toàn quốc. Các cơ quan có thẩm quyền chưa được trang bị đầy đủ thiết bị đo lường tiếng ồn hiện đại. Giấy phép môi trường chưa bao gồm đầy đủ yêu cầu về kiểm soát tiếng ồn đối với tất cả các dự án. Thiếu chế độ quan trắc định kỳ tiếng ồn tại các khu vực trọng điểm.

3.2. Yếu kém trong thực thi và xử phạt

Mức phạt vi phạm hành chính về ô nhiễm tiếng ồn tại Việt Nam còn tương đối thấp, không đủ để răn đe các cơ sở vi phạm. Năng lực giám sát của các đơn vị quản lý môi trường chưa cao do thiếu nguồn lực con người và tài chính. Cơ chế đơn thư khiếu nại về tiếng ồn chưa được tiếp nhận và xử lý một cách nhanh chóng và hiệu quả.

IV. Giải pháp hoàn thiện kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn cho Việt Nam

Dựa trên kinh nghiệm quốc tế, Việt Nam cần thực hiện những giải pháp toàn diện để cải thiện kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn. Trước hết, cần tổng hợp và hoàn thiện hệ thống pháp luật, rõ ràng hóa vai trò, trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương. Thứ hai, đầu tư vào giám sát thông qua lắp đặt thiết bị đo lường tiếng ồn tại các khu vực trọng điểm. Thứ ba, tăng cường xử phạt vi phạm để tạo hiệu ứng răn đe. Cuối cùng, tăng cường tham gia cộng đồng bằng cách công khai thông tin về chất lượng tiếng ồn và tiếp nhận khiếu nại từ người dân.

4.1. Cải cách pháp luật và quản lý hành chính

Việt Nam cần ban hành luật chuyên ngành về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn tương tự như các quốc gia phát triển. Quy định rõ ràng về quy chuẩn tiếng ồn cho từng lĩnh vực (giao thông, xây dựng, công nghiệp, sinh hoạt). Xây dựng cơ chế phối hợp liên bộ để đảm bảo nhất quán trong quản lýthực thi pháp luật. Rõ ràng hóa thẩm quyền giữa cấp trung ương và địa phương.

4.2. Các biện pháp kỹ thuật và thực thi

Xây dựng mạng lưới quan trắc tiếng ồn tại các thành phố lớn sử dụng công nghệ IoT hiện đại. Lập bản đồ tiếng ồn toàn quốc và xác định khu vực yên tĩnh cần bảo vệ. Tăng mức phạt vi phạm hành chính để phù hợp với hành vi vi phạm. Nâng cao năng lực của các đội kiểm soát môi trường thông qua đào tạo và trang bị thiết bị. Tăng cường tham gia cộng đồng thông qua chiến dịch nâng cao nhận thức về tác hại của ô nhiễm tiếng ồn.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ Ô NHIỄM TIẾNG ỒN VÀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN 1. Khái quát về ô nhiễm tiếng ồn 1. Khái niệm âm thanh Pháp luật Việt Nam vẫn chưa có một khái niệm cụ thể về âm thanh nói chung cũng như tiếng ồn nói riêng. Vì vậy, nhóm tác giả sẽ đưa ra khái niệm dựa trên những thông tin đã tham khảo và tổng hợp được trong quá trình nghiên cứu.

Để có được cái nhìn tổng quát nhất về ô nhiễm tiếng ồn, cần phải có sự phân biệt rõ ràng về khái niệm của một âm thanh bình thường và tiếng ồn. Âm thanh là một sóng hoặc một sự rung động truyền qua ba trạng thái vật chất, đó là chất rắn, chất lỏng và chất khí. Âm thanh được truyền qua các dao động cơ học, như khi tác động vào một vật, tạo nên một vài cơn rung trong các hạt phân tử, và khiến các hạt phân tử gần đó cũng rung động theo. Tai người có khả năng phân biệt được các tần số khác nhau, từ 20Hz đến 20,000Hz.

Bất cứ tần số nào dao động nhỏ hơn hoặc vượt ngưỡng này, tai người đều không nghe được. Mức độ của âm thanh được đo bằng âm lượng, âm lượng được xác định bằng đơn vị Decibels (dB). Cường độ âm thanh là công suất âm thanh được tính bằng Watts chia cho diện tích mà âm thanh đó bao phủ. Độ lớn của âm thanh liên quan tới cường độ âm thanh của bất kỳ âm thanh nào tại ngưỡng nghe.

Âm thanh được xác định bằng đơn vị Decibels (dB). Ngưỡng nghe của con người có cường độ rơi vào khoảng 0.0000000000001 Watts/m2 tương đương với 0 dB. Theo trang HealthLinkBC1 tạm dịch: “Nhìn chung, việc tiếng ồn được ghi nhận trên mức 85dB có thể được xem là có hại cho thính lực con người. Nhưng điều này vẫn cần được xem xét vào độ dài khoảng thời gian tiếp xúc với tiếng ồn cũng như tần suất tiếp xúc.

Việc này cũng phụ thuộc bạn có mang thiết bị bảo vệ chẳng hạn như nút tai hoặc bịt tai”. Chúng ta có thể xem 0 dB là ngưỡng thấp nhất, còn mức cao nhất có thể nghe thấy được gọi là mức chói tai. Thông thường, ngưỡng chói tai là 140 dB. Tuy 1 Healthwise Staff, “Harmful Noise Levels”, https://myhealth.ca/, truy cập ngày 10/1/2023 4 nhiên một số người có ngưỡng chói tai ở mức 85 dB, một số người khác thì ở ngưỡng 115 dB.

Tiếng lá xào xạc, âm nhạc nhẹ nhàng hay tiếng thầm thì thường ở mức 30 dB. Tiếng ồn ở một hộ gia đình là 40 dB. Một cuộc trò chuyện thông thường, nhạc nền là 60 dB. Tiếng ồn văn phòng, bên trong xe với vận tốc 97 km/h tương đương 70 dB.

75 dB tương ứng với tiếng máy hút bụi, đài ra-đi-ô. Với giao thông mật độ cao hay nhà hàng đông người, máy cắt cỏ có độ ồn rơi vào khoảng 80 – 89 dB. Âm thanh trên 85 dB là âm thanh có hại cho thính lực của con người, vì vậy mức độ âm thanh của các khoảng cao hơn sẽ càng gây ra mức độ trầm trọng hơn. Âm thanh của tàu điện ngầm cũng như tiếng la hét có độ ồn khoảng 90 đến 95 dB.

Xe địa hình, xe mô – tô có mức độ ồn từ 96 đến 100 dB. Một buổi tiệc ở trường sẽ tương đương với 101 đến 105 dB. Đối với máy cưa, máy thổi lá, xe trượt tuyết dao động ở khoảng 106 đến 115 dB. Với các khu công cộng ồn ào như đám đông, buổi hòa nhạc rock, dàn nhạc giao hưởng là 120 đến 129 dB.

Một cuộc đua xe sẽ có mức độ ồn là 130 dB và súng bắn, còi báo động ở độ cao 30m sẽ là 140 dB. Có thể thấy, những âm thanh trên 85 dB đều là những âm thanh mà chúng ta có thể sẽ gặp hàng ngày trong cuộc sống. Khái niệm ô nhiễm tiếng ồn Tiếng ồn là những âm thanh không mong muốn, không có giá trị đồng thời vượt ngưỡng mức an toàn cho thính giác của con người, gây nên sự khó chịu, ảnh hưởng tới quá trình làm việc và nghỉ ngơi. Tiếng ồn là những dao động sóng âm với cường độ và tần số khác nhau, sắp xếp không có trật tự và được lan truyền trong môi trường chất rắn, chất lỏng và chất khí.

Giống như âm thanh, tiếng ồn cũng được xác định bằng đơn vị Decibels (dB). Tiếng ồn chính là âm thanh, nhưng không đồng nghĩa với việc âm thanh chính là tiếng ồn. Có thể kết luận rằng, âm thanh dễ chịu khi nghe, không gây hại tới con người và động vật, đồng thời mang lại những lợi ích nhất định. Tiếng ồn, là những âm thanh lớn, không mong muốn và gây khó chịu cho con người và các sinh vật sống, ảnh hưởng tới công việc, sinh hoạt thường ngày.

5 Như vậy, có thể khái quát ô nhiễm tiếng ồn là những tiếng ồn kéo dài thường xuyên, liên tục, vượt quá ngưỡng nhất định và gây nên sự khó chịu, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt hằng ngày của con người và động vật. Phân loại tiếng ồn Tiếng ồn rất đa dạng, tồn tại trong mọi mặt của cuộc sống, tác động trực tiếp đến đời sống sinh hoạt, sức khỏe của chúng ta theo hướng tích cực và tiêu cực. Dựa vào các mục đích khác nhau, tiếng ồn được phân loại theo vị trí, nguồn gốc, thời gian tác dụng, màu sắc… Tiếng ồn phân loại theo vị trí nguồn ồn bao gồm tiếng ồn trong nhà và tiếng ồn bên ngoài nhà. Tiếng ồn trong nhà do chính con người và những phương tiện, đồ vật phục vụ đời sống vật chất, tinh thần của con người tạo ra như tiếng bước chân, tiếng nước chảy, tiếng tivi, tiếng máy hút bụi… Tiếng ồn bên ngoài nhà phát ra từ các phương tiện giao thông, sân vận động, khu vui chơi, các công trình xây dựng, hoạt động của các nhà máy, xí nghiệp…lan ra môi trường bên ngoài.

Dựa vào đặc điểm lan truyền, gồm có tiếng ồn khí động, tiếng ồn va chạm, tiếng ồn kết cấu. Tiếng ồn khí động phát ra và lan truyền trong không khí do các dòng khí chuyển động như tiếng nói, tiếng hát, tiếng từ loa phát thanh…Tiếng ồn va chạm tạo ra do sự va chạm của các vật thể, kim loại, thiết bị, máy móc. Tiếng ồn kết cấu lan truyền trong kết cấu nhà cửa hay trong các vật thể rắn nói chung, nguồn gốc của nó có thể là tiếng ồn khí động hoặc tiếng ồn va chạm, ví dụ như tiếng gõ cửa, tiếng bước chân ở tầng phía trên. Đặc biệt, trong lĩnh vực sinh hoạt - dịch vụ, tình trạng tiếng ồn vượt chuẩn cho phép ngày càng gia tăng và những khó khăn trong công tác xử phạt gây ảnh hưởng trực tiếp đến các khu dân cư và cuộc sống của người dân.

Theo Phó Giám c S Tài nguyên và Môi tr ng (TNMT) TPHCM Nguy#n Th$ Thanh M&, ti(ng )n t*i Thành ph H) Chí Minh g)m 4 nhóm: (1) Hoạt động karaoke, các điểm vui chơi, dịch vụ có quy mô lớn (quán bar, vũ trường, quán bia, club,…); (2) Quán nhậu vỉa hè mở nhạc, hát loa di động có công suất lớn, cường độ âm thanh lớn (loa của quán, loa của khách hoặc của những người bán kẹo kéo,…). (3) Hộ gia đình có trang bị dàn âm thanh, loa, karaoke, máy phát nhạc, chiếu phim; hộ gia đình thuê dàn nhạc để ca hát hoặc phục vụ các sinh hoạt văn hóa gia đình (tiệc cưới, lễ tang, sinh nhật và các dạng sinh hoạt, đám tiệc mừng, liên hoan khác,…), hát ngoài trời hoặc trong nhà nhưng không đóng kín cửa; (4) Các 6 loại hình buôn bán có sử dụng loa phát thanh quảng cáo (siêu thị, chợ, tiệm photocopy, các điểm quảng cáo,…), địa điểm sinh hoạt công cộng (công viên, nhà thờ, chùa,. Việc phân loại này, giúp các cơ quan chức năng dễ dàng xác định được chủ thể vi phạm, mức độ và quy mô vi phạm để áp dụng những mức xử phạt phù hợp. Tình hình ô nhiễm tiếng ồn tại Việt Nam Tiếng ồn là những âm thanh không mong muốn, gây khó chịu cho người nghe, ảnh hưởng tới quá trình làm việc và nghỉ ngơi.

Những tiếng ồn đó khi vượt quá ngưỡng nhất định sẽ gây ra ô nhiễm tiếng ồn. Ô nhiễm tiếng ồn xuất phát từ nguyên nhân tự nhiên và nguyên nhân nhân tạo. Nguyên nhân tự nhiên là các hiện tượng tự nhiên như động đất, núi lửa, sấm chớp,… các hiện tượng này xảy ra ngẫu nhiên, nhất thời, không tác động liên tục, kéo dài đến cuộc sống của con người. Nguyên nhân nhân tạo do chính con người tạo nên và tác động trực tiếp đến đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người trong thời gian dài, nhất là các thành phố lớn của nước ta.

Điển hình là Thành phố Hồ Chí Minh - đầu tàu kinh tế của cả nước, sự phát triển kinh tế kéo theo sự phát triển của các lĩnh vực khác như sự mở rộng của các hoạt động dịch vụ, vui chơi, giải trí; mật độ dân số tăng làm tăng mật độ giao thông; xây dựng nhiều các công trình hạ tầng, cơ sở, đường xá, nhiều nhà máy, xí nghiệp với quy mô lớn…những điều đó tất yếu dẫn đến tình trạng tiếng ồn gia tăng và ô nhiễm tiếng ồn ngày càng nghiêm trọng. Có thể thấy, các nguyên nhân chủ yếu gây ra ô nhiễm tiếng ồn ở các thành phố lớn là hoạt động giao thông, hoạt động xây dựng và hoạt động sinh hoạt- dịch vụ. Về hoạt động giao thông, tính đến tháng 11/2022, tổng số phương tiện giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội là hơn 7,7 triệu phương tiện; còn TP.HCM có 8,7 triệu phương tiện. Số lượng lớn và không ngừng gia tăng của các phương tiện giao thông với tiếng ồn từ còi xe, động cơ xe, phanh xe chính là nguồn sinh ra ô nhiễm tiếng ồn và có xu hướng ngày càng trầm trọng hơn.

Số lượng phương tiện cũ tham gia giao thông khá nhiều, các phương tiện không lắp bộ phận giảm tiếng ồn, ý thức của một bộ phận người tham gia giao thông kém (bấm còi xe inh ỏi, nẹt pô xe…), một bộ phận thanh thiếu niên độ xe để tham gia các cuộc đua xe trái phép làm cho tiếng ồn phát ra từ bô xe, động cơ xe rất to. Bên cạnh đó, còn có nguyên nhân khách quan từ hệ thống hạ tầng giao thông, nhiều tuyến đường luôn trong tình trạng kẹt xe dẫn đến các phương tiện tập trung rất 7 đông một chỗ gây ra tiếng ồn vượt ngưỡng. Máy bay cũng là loại phương tiện gây ra ô nhiễm tiếng ồn vì khi cất cánh và hạ cánh máy bay phát ra âm thanh với tần suất lớn, gây ảnh hưởng đến các khu dân cư sinh sống gần khu vực cảng hàng không.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ