CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ Ô NHIỄM TIẾNG ỒN VÀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN 1. Khái quát về ô nhiễm tiếng ồn 1. Khái niệm âm thanh Pháp luật Việt Nam vẫn chưa có một khái niệm cụ thể về âm thanh nói chung cũng như tiếng ồn nói riêng. Vì vậy, nhóm tác giả sẽ đưa ra khái niệm dựa trên những thông tin đã tham khảo và tổng hợp được trong quá trình nghiên cứu.
Để có được cái nhìn tổng quát nhất về ô nhiễm tiếng ồn, cần phải có sự phân biệt rõ ràng về khái niệm của một âm thanh bình thường và tiếng ồn. Âm thanh là một sóng hoặc một sự rung động truyền qua ba trạng thái vật chất, đó là chất rắn, chất lỏng và chất khí. Âm thanh được truyền qua các dao động cơ học, như khi tác động vào một vật, tạo nên một vài cơn rung trong các hạt phân tử, và khiến các hạt phân tử gần đó cũng rung động theo. Tai người có khả năng phân biệt được các tần số khác nhau, từ 20Hz đến 20,000Hz.
Bất cứ tần số nào dao động nhỏ hơn hoặc vượt ngưỡng này, tai người đều không nghe được. Mức độ của âm thanh được đo bằng âm lượng, âm lượng được xác định bằng đơn vị Decibels (dB). Cường độ âm thanh là công suất âm thanh được tính bằng Watts chia cho diện tích mà âm thanh đó bao phủ. Độ lớn của âm thanh liên quan tới cường độ âm thanh của bất kỳ âm thanh nào tại ngưỡng nghe.
Âm thanh được xác định bằng đơn vị Decibels (dB). Ngưỡng nghe của con người có cường độ rơi vào khoảng 0.0000000000001 Watts/m2 tương đương với 0 dB. Theo trang HealthLinkBC1 tạm dịch: “Nhìn chung, việc tiếng ồn được ghi nhận trên mức 85dB có thể được xem là có hại cho thính lực con người. Nhưng điều này vẫn cần được xem xét vào độ dài khoảng thời gian tiếp xúc với tiếng ồn cũng như tần suất tiếp xúc.
Việc này cũng phụ thuộc bạn có mang thiết bị bảo vệ chẳng hạn như nút tai hoặc bịt tai”. Chúng ta có thể xem 0 dB là ngưỡng thấp nhất, còn mức cao nhất có thể nghe thấy được gọi là mức chói tai. Thông thường, ngưỡng chói tai là 140 dB. Tuy 1 Healthwise Staff, “Harmful Noise Levels”, https://myhealth.ca/, truy cập ngày 10/1/2023 4 nhiên một số người có ngưỡng chói tai ở mức 85 dB, một số người khác thì ở ngưỡng 115 dB.
Tiếng lá xào xạc, âm nhạc nhẹ nhàng hay tiếng thầm thì thường ở mức 30 dB. Tiếng ồn ở một hộ gia đình là 40 dB. Một cuộc trò chuyện thông thường, nhạc nền là 60 dB. Tiếng ồn văn phòng, bên trong xe với vận tốc 97 km/h tương đương 70 dB.
75 dB tương ứng với tiếng máy hút bụi, đài ra-đi-ô. Với giao thông mật độ cao hay nhà hàng đông người, máy cắt cỏ có độ ồn rơi vào khoảng 80 – 89 dB. Âm thanh trên 85 dB là âm thanh có hại cho thính lực của con người, vì vậy mức độ âm thanh của các khoảng cao hơn sẽ càng gây ra mức độ trầm trọng hơn. Âm thanh của tàu điện ngầm cũng như tiếng la hét có độ ồn khoảng 90 đến 95 dB.
Xe địa hình, xe mô – tô có mức độ ồn từ 96 đến 100 dB. Một buổi tiệc ở trường sẽ tương đương với 101 đến 105 dB. Đối với máy cưa, máy thổi lá, xe trượt tuyết dao động ở khoảng 106 đến 115 dB. Với các khu công cộng ồn ào như đám đông, buổi hòa nhạc rock, dàn nhạc giao hưởng là 120 đến 129 dB.
Một cuộc đua xe sẽ có mức độ ồn là 130 dB và súng bắn, còi báo động ở độ cao 30m sẽ là 140 dB. Có thể thấy, những âm thanh trên 85 dB đều là những âm thanh mà chúng ta có thể sẽ gặp hàng ngày trong cuộc sống. Khái niệm ô nhiễm tiếng ồn Tiếng ồn là những âm thanh không mong muốn, không có giá trị đồng thời vượt ngưỡng mức an toàn cho thính giác của con người, gây nên sự khó chịu, ảnh hưởng tới quá trình làm việc và nghỉ ngơi. Tiếng ồn là những dao động sóng âm với cường độ và tần số khác nhau, sắp xếp không có trật tự và được lan truyền trong môi trường chất rắn, chất lỏng và chất khí.
Giống như âm thanh, tiếng ồn cũng được xác định bằng đơn vị Decibels (dB). Tiếng ồn chính là âm thanh, nhưng không đồng nghĩa với việc âm thanh chính là tiếng ồn. Có thể kết luận rằng, âm thanh dễ chịu khi nghe, không gây hại tới con người và động vật, đồng thời mang lại những lợi ích nhất định. Tiếng ồn, là những âm thanh lớn, không mong muốn và gây khó chịu cho con người và các sinh vật sống, ảnh hưởng tới công việc, sinh hoạt thường ngày.
5 Như vậy, có thể khái quát ô nhiễm tiếng ồn là những tiếng ồn kéo dài thường xuyên, liên tục, vượt quá ngưỡng nhất định và gây nên sự khó chịu, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt hằng ngày của con người và động vật. Phân loại tiếng ồn Tiếng ồn rất đa dạng, tồn tại trong mọi mặt của cuộc sống, tác động trực tiếp đến đời sống sinh hoạt, sức khỏe của chúng ta theo hướng tích cực và tiêu cực. Dựa vào các mục đích khác nhau, tiếng ồn được phân loại theo vị trí, nguồn gốc, thời gian tác dụng, màu sắc… Tiếng ồn phân loại theo vị trí nguồn ồn bao gồm tiếng ồn trong nhà và tiếng ồn bên ngoài nhà. Tiếng ồn trong nhà do chính con người và những phương tiện, đồ vật phục vụ đời sống vật chất, tinh thần của con người tạo ra như tiếng bước chân, tiếng nước chảy, tiếng tivi, tiếng máy hút bụi… Tiếng ồn bên ngoài nhà phát ra từ các phương tiện giao thông, sân vận động, khu vui chơi, các công trình xây dựng, hoạt động của các nhà máy, xí nghiệp…lan ra môi trường bên ngoài.
Dựa vào đặc điểm lan truyền, gồm có tiếng ồn khí động, tiếng ồn va chạm, tiếng ồn kết cấu. Tiếng ồn khí động phát ra và lan truyền trong không khí do các dòng khí chuyển động như tiếng nói, tiếng hát, tiếng từ loa phát thanh…Tiếng ồn va chạm tạo ra do sự va chạm của các vật thể, kim loại, thiết bị, máy móc. Tiếng ồn kết cấu lan truyền trong kết cấu nhà cửa hay trong các vật thể rắn nói chung, nguồn gốc của nó có thể là tiếng ồn khí động hoặc tiếng ồn va chạm, ví dụ như tiếng gõ cửa, tiếng bước chân ở tầng phía trên. Đặc biệt, trong lĩnh vực sinh hoạt - dịch vụ, tình trạng tiếng ồn vượt chuẩn cho phép ngày càng gia tăng và những khó khăn trong công tác xử phạt gây ảnh hưởng trực tiếp đến các khu dân cư và cuộc sống của người dân.
Theo Phó Giám c S Tài nguyên và Môi tr ng (TNMT) TPHCM Nguy#n Th$ Thanh M&, ti(ng )n t*i Thành ph H) Chí Minh g)m 4 nhóm: (1) Hoạt động karaoke, các điểm vui chơi, dịch vụ có quy mô lớn (quán bar, vũ trường, quán bia, club,…); (2) Quán nhậu vỉa hè mở nhạc, hát loa di động có công suất lớn, cường độ âm thanh lớn (loa của quán, loa của khách hoặc của những người bán kẹo kéo,…). (3) Hộ gia đình có trang bị dàn âm thanh, loa, karaoke, máy phát nhạc, chiếu phim; hộ gia đình thuê dàn nhạc để ca hát hoặc phục vụ các sinh hoạt văn hóa gia đình (tiệc cưới, lễ tang, sinh nhật và các dạng sinh hoạt, đám tiệc mừng, liên hoan khác,…), hát ngoài trời hoặc trong nhà nhưng không đóng kín cửa; (4) Các 6 loại hình buôn bán có sử dụng loa phát thanh quảng cáo (siêu thị, chợ, tiệm photocopy, các điểm quảng cáo,…), địa điểm sinh hoạt công cộng (công viên, nhà thờ, chùa,. Việc phân loại này, giúp các cơ quan chức năng dễ dàng xác định được chủ thể vi phạm, mức độ và quy mô vi phạm để áp dụng những mức xử phạt phù hợp. Tình hình ô nhiễm tiếng ồn tại Việt Nam Tiếng ồn là những âm thanh không mong muốn, gây khó chịu cho người nghe, ảnh hưởng tới quá trình làm việc và nghỉ ngơi.
Những tiếng ồn đó khi vượt quá ngưỡng nhất định sẽ gây ra ô nhiễm tiếng ồn. Ô nhiễm tiếng ồn xuất phát từ nguyên nhân tự nhiên và nguyên nhân nhân tạo. Nguyên nhân tự nhiên là các hiện tượng tự nhiên như động đất, núi lửa, sấm chớp,… các hiện tượng này xảy ra ngẫu nhiên, nhất thời, không tác động liên tục, kéo dài đến cuộc sống của con người. Nguyên nhân nhân tạo do chính con người tạo nên và tác động trực tiếp đến đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người trong thời gian dài, nhất là các thành phố lớn của nước ta.
Điển hình là Thành phố Hồ Chí Minh - đầu tàu kinh tế của cả nước, sự phát triển kinh tế kéo theo sự phát triển của các lĩnh vực khác như sự mở rộng của các hoạt động dịch vụ, vui chơi, giải trí; mật độ dân số tăng làm tăng mật độ giao thông; xây dựng nhiều các công trình hạ tầng, cơ sở, đường xá, nhiều nhà máy, xí nghiệp với quy mô lớn…những điều đó tất yếu dẫn đến tình trạng tiếng ồn gia tăng và ô nhiễm tiếng ồn ngày càng nghiêm trọng. Có thể thấy, các nguyên nhân chủ yếu gây ra ô nhiễm tiếng ồn ở các thành phố lớn là hoạt động giao thông, hoạt động xây dựng và hoạt động sinh hoạt- dịch vụ. Về hoạt động giao thông, tính đến tháng 11/2022, tổng số phương tiện giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội là hơn 7,7 triệu phương tiện; còn TP.HCM có 8,7 triệu phương tiện. Số lượng lớn và không ngừng gia tăng của các phương tiện giao thông với tiếng ồn từ còi xe, động cơ xe, phanh xe chính là nguồn sinh ra ô nhiễm tiếng ồn và có xu hướng ngày càng trầm trọng hơn.
Số lượng phương tiện cũ tham gia giao thông khá nhiều, các phương tiện không lắp bộ phận giảm tiếng ồn, ý thức của một bộ phận người tham gia giao thông kém (bấm còi xe inh ỏi, nẹt pô xe…), một bộ phận thanh thiếu niên độ xe để tham gia các cuộc đua xe trái phép làm cho tiếng ồn phát ra từ bô xe, động cơ xe rất to. Bên cạnh đó, còn có nguyên nhân khách quan từ hệ thống hạ tầng giao thông, nhiều tuyến đường luôn trong tình trạng kẹt xe dẫn đến các phương tiện tập trung rất 7 đông một chỗ gây ra tiếng ồn vượt ngưỡng. Máy bay cũng là loại phương tiện gây ra ô nhiễm tiếng ồn vì khi cất cánh và hạ cánh máy bay phát ra âm thanh với tần suất lớn, gây ảnh hưởng đến các khu dân cư sinh sống gần khu vực cảng hàng không.