phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng, bao gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát thuế giá trị gia tăng. Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát thuế giá trị gia tăng tại Chi cục Thuế khu vực Cẩm Thủy - Bá Thƣớc, tỉnh Thanh Hóa. Chƣơng 3: Một số giải pháp giúp tăng cƣờng kiểm soát thuế giá trị gia tăng tại Chi cục Thuế khu vực Cẩm Thủy - Bá Thƣớc, tỉnh Thanh Hóa. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1.
Tổng quan về thuế Giá trị gia tăng 1. Khái niệm thuế GTGT Theo quy định tại Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008 của Quốc Hội Việt Nam: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng và đƣợc thu ở khâu tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ”.[13] Thuế GTGT đƣợc tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ và đƣợc cộng vào giá bán. Do đó, khi ngƣời tiêu dùng thanh toán cho món hàng này, họ phải chi trả khoản thuế đó. Ngƣời bán hàng hóa, dịch vụ (NNT) vô hình chung đã chuyển dịch số tiền thuế này sang cho ngƣời mua (ngƣời chịu thuế) nên NNT không phải là ngƣời chịu thuế và ngƣời SXKD hàng hóa dịch vụ chỉ gián tiếp thay ngƣời tiêu dùng thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nƣớc.
Do đó, thuế GTGT là thuế gián thu và cũng là thuế tiêu dùng. Đặc điểm thuế GTGT - Thuế GTGT là một loại thuế gián thu. Tính gián thu của thuế GTGT đƣợc biểu hiện ở việc NNT và ngƣời chịu thuế không đồng nhất với nhau. Ngƣời mua hàng hóa, dịch vụ là ngƣời phải trả thuế GTGT thông qua giá mua của hàng hóa, dịch vụ.
Ngƣời bán hàng hóa, dịch vụ thực hiện nộp khoản thuế GTGT “đã đƣợc ngƣời mua trả” vào NSNN.[15] - Thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ. Việc đánh thuế chỉ trên phần giá trị tăng thêm mà không phải đối với toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ làm cho số thuế GTGT áp dụng trong mỗi khâu của quá trình lƣu thông không gây ra đột biến về giá cả cho ngƣời tiêu dùng. Đặc điểm này yêu cầu pháp luật chỉnh sửa để tìm ra cách thức, phƣơng thức phù hợp, có tính khả thi để xác định chính xác phần giá trị tăng thêm làm căn cứ tính thuế.[7] - Thuế GTGT là loại thuế có tính trung lập cao. Thuế GTGT không 4 chịu ảnh hƣởng bởi kết quả kinh doanh của NNT và không bị ảnh hƣởng bởi quá trình tổ chức phân chia quá trình SXKD, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kế số giai đoạn nhiều hay ít.[7] - Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ.
Vai trò thuế GTGT Thuế là công cụ vô cùng quan trọng của Nhà nƣớc, thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế. Nền kinh tế nƣớc ta đang trong quá trình vận hành theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của nhà nƣớc, nên thuế GTGT có vai trò nhƣ sau: - Thuế GTGT là loại thuế gián thu và đƣợc áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức, cá nhân tiêu dùng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nên tạo nguồn thu lớn và khá ổn định cho NSNN. - Thuế GTGT tính trên giá bán hàng hóa hoặc giá dịch vụ nên không cần đi sâu xem xét, phân tích về tính hợp lý, hợp lệ của các khoản chi phí, giúp cho việc tổ chức quản lý thu tƣơng đối dễ dàng hơn các loại thuế trực thu khác. - Đối với hàng xuất khẩu, không những không nộp thuế GTGT mà còn đƣợc khấu trừ hoặc đƣợc hoàn lại số thuế GTGT đầu vào nên giúp giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng hóa xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trƣờng quốc tế.
- Thuế GTGT cùng với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng nhập khẩu, có tác dụng tích cực thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng hàng nội địa. - Thuế GTGT tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao. Việc khấu trừ thuế GTGT đƣợc căn cứ trên hóa đơn mua vào nên thúc đẩy ngƣời mua phải đòi hỏi ngƣời bán xuất hóa đơn, ghi doanh thu đúng với hoạt động mua bán; khắc phục tình trạng thông đồng giữa ngƣời mua và ngƣời bán để trốn lậu thuế ở khâu bán lẻ, thƣờng xảy ra trốn lậu thuế [9; tr. - Thuế GTGT thƣờng có ít thuế suất, đảm bảo sự đơn giản, rõ ràng.
Vì ít 5 thuế suất, loại thuế này mang tính trung lập nên về cơ bản, nó không can thiệp sâu vào khuyến khích hay hạn chế SXKD tiêu dùng; không gây phức tạp trong việc xem xét từng mặt hàng, ngành nghề có thuế suất chênh lệch nhau nhiều. - Thuế GTGT giúp NNT nâng cao tính tự giác trong thực hiện các nghĩa vụ thuế. Thông thƣờng, trong chế độ kê khai nộp thuế GTGT, cơ quan thuế tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh tự kiểm tra, tính thuế, kê khai và nộp thuế, từ đó tạo tâm lý và cơ sở pháp lý cho đơn vị kinh doanh không phải hiệp thƣơng, thỏa thuận về mức doanh thu, mức thuế với cơ quan thuế [9]. - Tăng cƣờng công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hóa có hóa đơn chứng từ; việc tính thuế đầu vào đƣợc khấu trừ là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy cả ngƣời mua, ngƣời bán cùng thực hiện tốt chế độ hóa đơn, chứng từ.[9] - Việc khấu trừ thuế đã nộp ở đầu vào còn có tác dụng khuyến khích hiện đại hóa, chuyên môn hóa sản xuất, tăng cƣờng đầu tƣ mua sắm trang thiết bị mới để hạ giá thành sản phẩm.
- Thuế giá trị gia tăng đƣợc ban hành gắn liền với việc sửa đổi, bổ sung một số loại thuế khác nhƣ thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu. góp phần làm cho hệ thống chính sách thuế của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp với sự vận động và phát triển của nền kinh tế thị trƣờng, tƣơng đồng với hệ thống thuế trong khu vực và trên thế giới, góp phần đẩy mạnh việc mở rộng hợp tác kinh tế và thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam. Đối tượng chịu thuế GTGT và đối tượng không chịu thuế GTGT a. Đối tượng chịu thuế GTGT Đối tƣợng chịu thuế giá trị gia tăng là “hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nƣớc ngoài), trừ các đối tƣợng không chịu thuế GTGT”.[9] Việc xác định hàng hóa, dịch vụ chịu Thuế GTGT đƣợc căn cứ vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, theo đó hàng hóa, dịch vụ 6 tiêu dùng ở Việt Nam là đối tƣợng chịu thuế GTGT.
Nhƣ vậy, phạm vi đối tƣợng chịu Thuế GTGT ở Việt Nam rất rộng, bao gồm tất cả các hàng hóa, dịch vụ đƣợc sản xuất trong nƣớc hoặc nhập khẩu phục vụ cho tiêu dùng trong nƣớc Hoạt động tiêu dung trong nƣớc có thể là tiêu dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu dùng cho các hoạt động không sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng cá nhân. Đối tượng không chịu thuế GTGT Thuế GTGT là loại Thuế đánh trên diện rộng bởi vì về mặt lý thuyết mọi hàng hóa và dịch vụ đƣợc tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ Quốc gia đều có thể đƣa vào diện chịu thuế. Tuy nhiên, trong từng thời kỳ, Nhà nƣớc cần thực hiện một số chính sách kinh tế - xã hội nhất định nhƣ ƣu tiên đối với hàng hóa, dịch vụ phục vụ nhu cầu thiết yếu, hàng hóa, dịch vụ khó xác định đƣợc giá trị gia tăng, những hàng hóa trong nƣớc chƣa sản xuất đƣợc cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh, phát triển khoa học công nghệ….nên Luật Thuế GTGT có quy định một số hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tƣợng không chịu Thuế GTGT. Ở nƣớc ta theo quy định hiện hành có 26 nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu Thuế GTGT.
Các nhóm hàng hóa, dịch vụ này có thể xếp theo tính chất và mục đích kinh tế xã hội sau đây [2]: - Sản phẩm nông nghiệp, máy móc thiết bị và dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp. - Hàng hóa, dịch vụ mang tính chất thiết yếu phục vụ nhu cầu đời sống cộng đồng, không mang tính chất kinh doanh. - Hàng hóa, dịch vụ thuộc các ngành, lĩnh vực cần khuyến khích phát triển. - Các dịch vụ, tài chính, ngân hàng, kinh doanh chứng khoán.
- Hàng hóa, dịch vụ mang tính chất đặc thù thuộc hoạt động an ninh, quốc phòng. 7 - Hàng hóa, dịch vụ thuộc các hoạt động ƣu đãi vì mục tiêu chính trị, xã hội, nhân đạo. - Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân có mức doanh thu thấp. - Các hàng hóa, dịch vụ khác.
Quy định về kiểm soát thuế GTGT đối với doanh nghiệp a. Quy định về kê khai Căn cứ Điều 15 Thông tƣ số 151/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung điểm b, Khoản 2 Điều 11 Thông tƣ số 156/2013/TT- BTC về khai thuế giá trị gia tăng có quy định nhƣ sau [2]: “- Khai thuế theo quý áp dụng đối với ngƣời nộp thuế giá trị gia tăng có tổng doanh thu bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ của năm trƣớc liền kề từ 50 tỷ đồng trở xuống. - Trƣờng hợp ngƣời nộp thuế mới bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh việc khai thuế giá trị gia tăng đƣợc thực hiện theo quý. Sau khi sản xuất kinh doanh đủ 12 tháng thì từ năm dƣơng lịch tiếp theo sẽ căn cứ theo mức doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ của năm dƣơng lịch trƣớc liền kề (đủ 12 tháng) để thực hiện khai thuế giá trị gia tăng theo tháng hay theo quý.
- Ngƣời nộp thuế có trách nhiệm tự xác định thuộc đối tƣợng khai thuế theo tháng hay khai thuế theo quý để thực hiện khai thuế theo quy định. - Việc thực hiện khai thuế theo quý hay theo tháng đƣợc ổn định trọn năm dƣơng lịch và ổn định theo chu kỳ 3 năm”. Quyền và nghĩa vụ của ngƣời nộp thuế Theo Luật thuế giá trị gia tăng, luật thuế tiêu thụ đặc biệt và luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019, quyền và nghĩa vụ của ngƣời nộp thuế đƣợc quy định nhƣ sau: [14].