Chương I. Cơ sở lý luận về pháp luật kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam hiện nay. Chương II. Thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật về kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam hiện nay.
Chương III. Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam hiện nay 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT THU NHẬP CỦA NGƢỜI CÓ CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Quan niệm về pháp luật kiểm soát thu nhập của ngƣời có chức vụ, quyền hạn 1. Thu nhập, thu nhập cá nhân Cho đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về thu nhập được đưa ra trong các công trình nghiên cứu, nhưng vẫn chưa có một quan điểm thống nhất, đầy đủ, tổng quát về khái niệm này.
Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, các học giả đã nêu ra những quan niệm khác nhau về thu nhập. Hai nhà kinh tế học người Anh là R. Simons vào đầu thế kỷ thứ XX định nghĩa: “Thu nhập là giá trị tiềm năng thực tế trong khả năng từng cá nhân để tiêu dùng trong suốt một khoảng thời gian nào đó” [01, tr7]. Đây được coi là một cách tính thu nhập lý tưởng.
Việc cộng giá trị tăng thêm vào thu nhập bởi vì chúng thể hiện sự gia tăng tài sản trong tương lai, nhưng trong thực tế khó thực hiện được vì giá trị tăng thêm mới chỉ ở dạng tiềm năng và thông thường được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhà kinh tế học người Mỹ là Samuelson thì đưa ra định nghĩa về thu nhập một cách giản dị hơn: “Thu nhập là tổng số tiền mà một người kiếm được hoặc thu góp được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm)” [36, tr 11]. Còn theo từ điển Tiếng Việt thì “thu nhập” là “.nhận được tiền nong, của cải từ một hoạt động nào đó để chi dùng cho cuộc sống” [70, tr 234]; hay “là khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cá nhân, một doanh nghiệp hoặc một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định từ công việc, dịch vụ hoặc hoạt động nào đó” [69, tr 725, 726]. Các định nghĩa nêu trên mặc dù chưa phản ánh được đầy đủ các khía cạnh của thu nhập nhưng tổng hợp lại cho thấy một số đặc điểm chung như: thu nhập thuộc về một chủ thể trong xã hội; thu nhập biểu hiện mức độ sở hữu 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tài sản của một chủ thể, được xác định trong một khoảng thời gian nhất định, được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ; thu nhập được hình thành thông qua quá trình phân phối và phân phối lại do thị trường và nhà nước thực hiện.
Từ những đặc điểm chung nêu trên, có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát về thu nhập, theo đó: Thu nhập là tổng các giá trị mà một chủ thể nhận được, thu được trong một khoảng thời gian nhất định, không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập. Từ khái niệm thu nhập, có thể rút ra khái niệm thu nhập cá nhân (TNCN), là: … tổng các giá trị nhận được, thu được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm) của một cá nhân, không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập. Thực tế bất cứ cá nhân nào đều có thể có thu nhập của riêng mình. Người lao động có thu nhập từ tiền công, tiền lương thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh, trồng trọt, chăn nuôi… sinh viên có thu nhập từ học bổng của nhà trường, từ nguồn tặng, cho của bố mẹ hoặc đài thọ của các tổ chức, cá nhân.
Thậm chí một em bé mới sinh cũng có thể có thu nhập từ thừa kế tài sản, được tặng, cho hoặc lợi nhuận từ tiền gửi ngân hàng của các khoản thừa kế, tặng cho đó… Tùy thuộc vào yêu cầu quản lý và mục đích nghiên cứu, TNCN được chia thành nhiều loại khác nhau. Căn cứ vào nguồn tạo ra thu nhập, có thể chia thành thu nhập từ lao động (tiền công, tiền lương, tiền thưởng.) và thu nhập không từ lao động (thừa kế, chuyển nhượng, sở hữu vốn, quà biếu, quà tặng.) Căn cứ vào tính chất phát sinh thu nhập, có thể chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên. Căn cứ vào tính chất pháp lý của thu nhập, có thể chia thành thu nhập hợp pháp và không hợp pháp. Thu nhập hợp pháp là thu nhập được tạo ra từ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoạt động được pháp luật cho phép.
Thu nhập bất hợp pháp là thu nhập được tạo ra từ các hoạt động mà nhà nước cấm và pháp luật không bảo vệ. Phân tích TNCN theo các hoạt động cụ thể, có thể thấy nguồn của TNCN rất phong phú, đa dạng. Theo quy định của Luật thuế TNCN (Điều 3) và Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính (Điều 2) thì các nguồn thu nhập bao gồm: thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn;thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản;thu nhập từ trúng thưởng;thu nhập từ bản quyền;thu nhập từ nhượng quyền thương mại; thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng; thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng; thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất; thu nhập từ kiều hối; thu nhập từ học bổng; thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tiền bồi thường tai nạn lao động, khoản bồi thường nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật. Nhìn chung, những nguồn thu nhập nêu trên là những nguồn thu nhập hợp pháp, còn trên thực tế cá nhân còn có thể có những thu nhập từ nguồn bất hợp pháp, ví dụ như tiền, tài sản có được từ các hành vi tham ô, nhận hối lộ, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi; tiền, tài sản do phạm tội mà có.
Mặc dù có nhiều cách phân loại thu nhập nhưng chung quy thu nhập chỉ tồn tại dưới hai hình thức là bằng tiền và tài sản có giá trị. Tiền có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ, tiền mặt, tiền séc. Tài sản có giá có thể là bất cứ của cải, vật chất nào có giá trị hoặc các chứng chỉ có giá khác. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Người có chức vụ, quyền hạn Khái niệm người có chức vụ, quyền hạn được đề cập chính thức lần đầu tiên trong Thông tư của Tòa án nhân dân tối cao ngày 06/8/1982 hướng dẫn giải thích việc vận dụng Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ, theo đó: “Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm những người được cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội chính thức giao đảm nhiệm một công tác thường xuyên hoặc nhất thời, không kể quy chế (do bổ nhiệm, dân cử, hợp đồng, nghĩa vụ, có hưởng lương hoặc không hưởng lương) hoặc cấp bậc như thế nào (người phụ trách hay nhân viên phục vụ) có quyền năng đối với người khác trong khi thực hiện công tác” [22, tr 48, 49]. Trên cơ sở đó, trong BLHS đầu tiên của nước ta năm 1985, khái niệm người có chức vụ, quyền hạn được quy định một cách rõ ràng, đầy đủ hơn và quy định này được giữ nguyên cho đến nay. Điều 277 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định: “Người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ”. Theo khoản 3 Điều 1 Luật PCTN năm 2005, người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: - Cán bộ, công chức, viên chức; - Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân; - Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; - Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.
Như vậy, có bốn nhóm đối tượng được coi là có chức vụ, quyền hạn, đó là: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhóm thứ nhất, cán bộ, công chức, viên chức. Đây là nhóm đối tượng chủ yếu, chiếm số lượng lớn người được coi là có chức vụ, quyền hạn và đây cũng là nhóm thường nắm giữ những vị trí, công việc liên quan đến vốn, tài sản của Nhà nước hoặc trực tiếp tiếp xúc, giải quyết công việc của công dân, doanh nghiệp nên có nhiều cơ hội thực hiện hành vi tham nhũng. Những người thuộc nhóm này được quy định cụ thể tại Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Điều 2 Luật Viên chức năm 2010.