Chương 1. Một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự. Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự của Viện kiểm sát nhân dân. Thực tiễn thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự qua nghiên cứu tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm sát các vụ án dân sự.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự 1.1 Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự: Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại chương II đã khẳng định: “ Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Trong các quyền con người đã được Hiến pháp ghi nhận, quyền dân sự của công dân có ý nghĩa rất quan trọng và được nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ. Bộ luật dân sự 2005 cũng ghi nhận quyền này và cho phép các chủ thể được chủ động thực hiện biện pháp pháp lý để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh các biện pháp mà nhà nước cho phép thực hiện như tự thỏa thuận, hòa giải, yêu cầu trọng tài giải quyết thì biện pháp khởi kiện vụ án dân sự theo trình tự tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân được coi là một biện pháp tương đối hữu hiệu.
Thực hiện biện pháp này, cá nhân, cơ quan, tổ chức khi cho rằng quyền, lợi ích dân sự của mình bị xâm phạm, tranh chấp, họ có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm quyền dân sự phải chấm dứt hành vi trái pháp luật, phải bồi thường thiệt hại… Tại Điều 161 chương VII BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 đã khẳng định quyền khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức như sau: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đâu gọi 7 z chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Để đảm bảo hơn nữa quyền được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, BLTTDS còn quy định một số cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện trong một số lĩnh vực nhất định để bảo vệ quyền và lợi ích của chủ thể. Điều này đã được cụ thể hóa trong Điều 162 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011. Theo quy định tại điều này thì cơ quan dân số, gia đình và trẻ em, hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện về vụ án hôn nhân và gia đình trong trường hợp do luật Hôn nhân và gia đình quy định.
Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động do pháp luật quy định. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn được nhà nước phân công có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách. Như vậy, khi có yêu cầu khởi kiện của chủ thể có quyền khởi kiện, tòa án với tư cách là một cơ quan nhà nước, được nhà nước phân công nhiệm vụ giải quyết các yêu cầu trong các vụ việc dân sự sẽ có trách nhiệm xem xét, giải quyết. Sau khi nhận đơn, nếu nhận thấy đơn đó thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án mình thì tòa án thụ lý giải quyết và khi đó sẽ phát sinh vụ án dân sự tại tòa án nhân dân.
Việc phát sinh các vụ án dân sự tại tòa án nhân dân là một hiện tượng tất yếu bởi cho dù quyền, nghĩa vụ của các chủ thể đã được quy định trong luật nội dung nhưng do mỗi chủ thể có trình độ, có ý thức pháp luật khác nhau nên khi thực hiện quyền, nghĩa vụ vẫn xảy ra hiện tượng thực hiện không đúng hoặc không thực hiện nghĩa vụ dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp về quyền, lợi ích giữa các chủ thể. Nếu các bên lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn và tòa án chấp nhận giải quyết tranh 8 z chấp, mâu thẫn đó thì khi tòa án thụ lý giải quyết, mâu thuẫn, tranh chấp đó là vụ án dân sự. Trong BLTTDS hiện hành không có điều luật nào quy định cụ thể khái niệm vụ án dân sự hay việc dân sự. Tại Điều 1 BLTTDS chỉ quy định: “BLTTDS quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự , thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án…”.
Như vậy, Bộ luật chỉ khái quát chung về khái niệm cũng như đặc điểm của vụ án và việc dân sự chứ không quy định thành từng điều luật cụ thể. Tuy nhiên qua quy định trên có thể nhận thấy vụ án dân sự phát sinh từ việc các bên mâu thuẫn, tranh chấp với nhau về quyền, lợi ích dân sự, một trong các bên có đơn yêu cầu tòa án giải quyết và tòa án thụ lý giải quyết đơn yêu cầu đó. Quyền, lợi ích dân sự mà các bên có mâu thuân, tranh chấp với nhau được quy định trong BLTTDS theo nghĩa rộng, bao gồm các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là tranh chấp dân sự). Khi các mâu thuẫn, tranh chấp trở thành vụ án dân sự thì vụ án dân sự là đối tượng của thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại tòa án nhân dân.
Trong tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các vụ việc dân sự nói chung hay các vụ án dân sự nói riêng. Với tư cách là một cơ quan trong bộ máy nhà nước, Tòa án được nhà nước giao thẩm quyền đặc biệt là thẩm quyền xét xử, được sử dụng quyền lực nhà nước để giải quyết các vụ việc dân sự dân sự. Do có thẩm quyền đặc biệt, 9 z được quyền sử dụng quyền lực nhà nước nên khả năng tòa án có thể lạm dụng việc sử dụng quyền lực nhà nước rất có thể sẽ xảy ra. Mặt khác, do các tranh chấp dân sự ngày càng đa dạng, phức tạp nên khả năng việc giải quyết vụ án dân sự có thể sai lầm nên trong luật tố tụng dân sự của bất cứ một quốc gia nào cũng cần thiết lập một cơ chế kiểm tra, giám sát hợp lý đối với hoạt động giải quyết các vụ việc dân sự của tòa án nhân dân.
BLTTDS của Việt Nam cũng không là một ngoại lệ. Nhận thức được sự cần thiết của cơ chế kiểm tra, giám sát, BLTTDS hiện hành cũng đã có nhiều quy định về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự tại tòa án nhân dân. Theo giải thích trong Đại từ điển Tiếng Việt: “Kiểm sát là việc kiểm tra và giám sát, là công tác điều tra tố tụng các vụ án theo pháp luật”[46]. Tại từ điển Tiếng Việt cũng có cách giải thích tương tự: “Kiểm sát là kiểm tra và giám sát việc chấp hành pháp luật của nhà nước”[47].
Kiểm sát còn được hiểu “là kiểm tra, giám sát, xem xét, theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giam giữ, cải tạo của cơ quan tiến hành tố tụng và giải quyết các hành vi phạm pháp, kiện tụng trong nhân dân nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chính và thống nhất.”[48] Như vậy, hiểu theo cách chung nhất kiểm sát là một hoạt động thiết yếu của Nhà nước, là chức năng tất yếu của một cơ quan được nhà nước phân công kiểm sát hoạt động giải quyết các vụ án dân sự do tòa án tiến hành. Cơ quan được nhà nước phân công này chính là Viện kiểm sát nhân dân. Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng cơ bản đó là chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp. Có thể nhận thấy khái niệm “kiểm sát” được nghiên cứu trong đề tài này gắn liền mật 10 z thiết với chức năng thứ hai của VKSND các cấp và là một trong hai chức năng đặc thù của VKSND.
Ở Việt Nam, bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa, quyền lực Nhà nước là thống nhất, tập trung vào Quốc hội, có sự phân công, phân nhiệm giữa Quốc hội, Chính phủ, Tòa án và Viện kiểm sát, để mỗi cơ quan thi hành có riêng chức năng, nhiệm vụ của mình, nhưng vẫn phối hợp và hiệp đồng chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp của quyền lực nhà nước. Tòa án nhân dân và VKSND trong bộ máy nhà nước Việt Nam là cơ quan tư pháp, trong đó Tòa án nhân dân thực hiện chức năng xét xử, VKSND thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư xét xử. Từ thời Pháp thuộc, VKSND đã được thành lập. Mô hình này tiếp tục tồn tại sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 trong cơ cấu hệ thống tổ chức của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Hiến pháp năm 1946 tuy không đề cập đến VKSND nhưng trong cơ cấu của Toà án có các Kiểm sát viên làm nhiệm vụ buộc tội nhân danh Nhà nước trước phiên toà trong các vụ án hình sự.