Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát hoạt động cho vay trong ngân hàng Chương 2: Thực trạng kiểm soát hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn – chi nhánh huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn– chi nhánh huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Dự kiến nội dung thực hiện: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát hoạt động cho vay trong ngân hàng Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng Agribank chi nhánh Đông Sơn, Thanh Hóa Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng Agribank chi nhánh Đông Sơn, Thanh Hóa 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRONG NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về hoạt động cho vay và hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp trong ngân hàng thƣơng mại 1.
Bản chất của hoạt động cho vay trong ngân hàng Quan hệ tín dụng ra đời và tồn tại xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quá trình tuần hoàn vốn để giải quyết hiện tƣợng dƣ thừa, thiếu hút vốn diễn ra thƣờng xuyên giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng tài sản từ ngƣời sở hữu này sang ngƣời sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định, Khi đến hạn ngƣời sử dụng hoàn trả một lƣợng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Theo tác giả Nguyễn Văn Tiến (2013), bất kỳ sự kiện chuyển giao quyền sở hữu tạm thời (có hoàn trả) về tài sản đều phản ánh mối quan hệ tín dụng. Mối quan hệ tín dụng này đƣợc thể hiện dƣới các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính [17, tr.
Nhƣ vậy, tín dụng là nội dung rộng hơn hoạt động cho vay, tuy nhiên hoạt động tín dung thì cho vay (tín dụng bằng tiền) là hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các ngân hàng thƣơng mại. Chính vì vậy, thuật ngữ tín dụng và cho vay thƣờng đƣợc dùng đan xen và thay thế cho nhau. Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại, tác giả Frederics Mishkin (2007) cho rằng cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thƣơng mại để tạo ra lợi nhuận [18, tr. Doanh thu từ hoạt động cho vay dùng để bù đắp chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tƣ khác của ngân hàng thƣơng mại.
Cho vay trong ngân hàng thƣơng mại thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể cho vay là ngân hàng và các khách thể đi vay là khách hàng trong việc chuyển nhƣợng vốn hoặc tài sản tạm thời và hoàn trả giá trị lớn hơn trong một khoảng thời gian định trƣớc [18, tr. 5 Đồng quan điểm đó, tác giả Mai Văn Bạn (2011) đã đƣa ra định nghĩa về hoạt động cho vay trong ngân hàng thƣơng mại nhƣ sau: Cho vay của ngân hàng thƣơng mại là việc chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngân hàng thƣơng mại (ngƣời sở hữu) sang khách hàng (ngƣời sử dụng) sau một thời gian nhất định quay trở lại ngân hàng thƣơng mại với lƣợng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu [1, tr. Cho vay của ngân hàng thƣơng mại là một hình thức là tín dụng ngân hàng thƣơng mại, là một lĩnh vực phức tạp và thƣờng xuyên cập nhật theo những biến chuyển của môi trƣờng kinh tế. Kinh tế càng phát triển, doanh số cho vay của các ngân hàng thƣơng mại càng tăng nhanh và loại hình cho vay càng trở nên vô cùng đa dạng ở hầu hết các nƣớc phát triển hàng đầu thế giới, cho vay của các ngân hàng thƣơng mại đã chuyển dần từ cho vay ngắn hạn sang cho vay dài hạn.Khu vực cho vay ngắn hạn nhƣờng chỗ cho thị trƣờng tài chính- tiền tệ cung ứng.
ngƣợc lại ở hầu hết các nƣớc đang phát triển, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm bộ phận lớn hơn cho vay dài hạn, xuất phát từ chỗ thiếu an toàn cho các khoản đầu tƣ dài hạn (trong đó có những tác nhân chủ yếu nhƣ tình hình tăng trƣởng, lạm phát…) Nhƣ vậy, dựa trên quan điểm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc, khái niệm hoạt động cho vay có thể đƣợc tóm tắt lại nhƣ sau: Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một lƣợng giá trị để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm hoạt động cho vay Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động tín dụng, do vậy hoạt động cho vay mang tính chất của hoạt động tín dụng. Theo tác giả Nguyễn Văn Tiến (2013), các đặc điểm chính bao gồm: Thứ nhất, hoạt động cho vay đƣợc thực hiện trên cơ sở lòng tin. Ngân hàng chỉ cho vay tín dụng khi có lòng tin vào khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ gốc cùng lãi đúng thời hạn.
6 Thứ hai, cho vay là sự chuyển nhƣợng tài sản có thời hạn. Ngân hàng thƣơng mại là một trung gian tài chính “đi vay để cho vay” nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều có thời hạn, đảm bảo cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động. Để xác định thời gian cho vay hợp lý ngân hàng cần phải căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình và quá trình luân chuyển vốn của đối tƣợng vay. Nếu ngân hàng có nguồn vốn dài hạn ổn định, thì có thể cho vay dài hạn, ngƣợc lại nếu nguồn vốn không ổn định và kỳ hạn ngắn thì việc cho vay dài hạn sẽ gây ra rủi ro thanh khoản cho ngân hàng.
Thứ ba, cho vay phải trên nguyên tác hoàn trả cả gốc và lãi. Nếu không có sự hoàn trả thì không coi là hoạt động cho vay tín dụng. Giá trị hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải hoàn trả cho ngân hàng 1 khoản lãi, đây chính là giá của quyền sử dụng vốn vay. Khoản lãi đƣợc tạo ra luôn phải là số dƣơng, có nhƣ vậy mới bù đắp đƣợc chi phí hoạt động của ngân hàng.
Thứ tƣ, hoạt động cho vay là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng: Việc thu hồi vốn vay phụ thuộc vào bản thân khách hàng, môi trƣờng hoạt động ngoài tầm kiểm soát của khách hàng và ngân hàng nhƣ biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát…. Khi khách hàng gặp phải khó khăn do môi trƣờng kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong hoạt động trả nợ sẽ khiến cho ngân hàng gặp phải rủi ro. Thứ năm, cho vay phải dựa trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Quá trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ nhƣ: Hợp đồng tín dụng, khế ƣớc vay vốn, hợp đồng bảo đảm tiền vay, bảo lãnh …, trong đó bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn.
Phân loại hoạt động cho vay trong ngân hàng thương mại Theo các tiêu chí khác nhau, hoạt động cho vay trong ngân hàng thƣơng mại đƣợc phân loại thành các nhóm khác nhau. a, Phân loại theo thời gian cho vay Cho vay ngắn hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn dƣới 1 năm và 7 đƣợc sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lƣu động tạm thời của các doanh nghiệp phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình. Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm và sử dụng chủ yếu để đầu tƣ mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất và xây dựng công trình vừa nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn hoàn trả trên 5 năm và đáp ứng cho nhu cầu đầu tƣ dài hạn nhƣ xây dựng cơ bản, cơ sở hạ tầng cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô sản xuất có quy mô lớn.
b, Căn cứ vào tài sản đảm bảo Cho vay có tài sản đảm bảo: Là cho vay có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có ngƣời bảo lãnh của bên thứ 3. Tài sản đảm bảo hoặc bảo lãnh là cơ sở pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu dự phòng khi nguồn thu chính của bên đi vay bị thiếu hụt, bắt buộc bên đi vay phải trả nợ, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Cho vay không có tài sản đảm bảo: Là cho vay không có tài sản đảm bảo cầm cố thế chấp hay có bảo lãnh của bên thứ 3. Loại hình cho vay này đƣợc áp dụng cho khách hàng có hệ số tín nhiệm cao.
c, Căn cứ vào chủ thể vay vốn Cho vay khách hàng doanh nghiệp: Còn đƣợc gọi là hình thức cho vay bán buôn vì đối tƣợng cho vay là các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu. Đối tƣợng khách hàng này thƣờng là loại hình cho vay mang lại nguồn thu nhập chính cho ngân hàng, do giá trị khoản vay lớn. Cho vay khách hàng cá nhân, hộ gia đình: Còn gọi là cho vay bán lẻ, đối tƣợng khách hàng chủ yếu là cá nhân, hộ gia đình có giá trị nhỏ nhằm phục vụ mục đích tiêu dùng hoặc hoạt động khác. Cho vay các tổ chức tài chính: Đây là khoản vay cấp cho các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tỏ chức tài chính khác.
8 Những khoản vay này trở thành nguồn vốn của các tổ chức tín dụng, nên chúng có thể đƣợc sử dụng trả nợ hoặc cho vay lại.Khách hàng doanh nghiệp và hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp 1. Doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, “Doanh nghiệp” là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh [14, tr. Theo định nghĩa này thì doanh nghiệp đƣợc xác định bởi 04 đấu hiệu chính là: có tài sản riêng, có tên riêng, có trụ sở ổn định và có đăng ký kinh doanh. Đây là các dấy hiệu đểnhận diện một chủ thể kinh tế là doanh nghiệp hay không phải là doanh nghiệp.