Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Các khái niệm về tin báo, tố giác về tội phạm và kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân 1.1 Khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm Tin báo, tố giác về tội phạm là nguồn thông tin quan trọng góp phần giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở, căn cứ để tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra các vụ án hình sự. Quy định về tin báo, tố giác về tội phạm góp phần tăng cường trách nhiệm của người dân, cơ quan, tổ chức trong xã hội đối với việc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đồng thời góp phần tạo sự rõ ràng và minh bạch cho các chủ thể này có thể tố cáo hành vi phạm tội hoặc thông tin về hành vi phạm tội của người khác đến cơ quan có thẩm quyền.
Hoạt động xử lý tin báo, tố giác về tội phạm là một hoạt động quan trọng trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, qua đó CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có căn cứ không khởi tố vụ án hình sự hoặc khởi tố vụ án hình sự và tiến hành điều tra. Điều 100 BLTTHS năm 2003 quy định: " Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây: 1. Tố giác của công dân; 2.
Tin báo của cơ quan, tổ chức; 3. Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;. Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự thể hiện sự phản ứng nhanh chóng từ phía nhà nước đối với mỗi hành vi phạm tội nhằm góp phần điều tra, xử lý một cách có căn cứ và đúng pháp luật hành vi phạm tội và người phạm tội. Việc khởi tố vụ án đúng, kịp thời có ý nghĩa quan trọng, là tiền đề mở ra hàng loạt những hoạt động tố tụng sau này.
Căn cứ để khởi tố vụ án hình sự khi xác định có dấu hiệu của tội phạm xảy ra dựa 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trên năm cơ sở được quy định tại Điều 100 BLTTHS năm 2003, trong số đó là tố giác của công dân; tin báo của cơ quan, tổ chức; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Dưới góc độ ngôn ngữ học, các thuật ngữ: Tố cáo, tin báo, tố giác được hiểu là: Khái niệm “Tố cáo” được hiểu với hai nghĩa: Thứ nhất, tố cáo là báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó. Thứ hai, tố cáo là vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án, ngăn chặn [21, tr. Khái niệm “Tố giác” được hiểu là: báo cho cơ quan chính quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó [21, tr.
Khái niệm “Tin” cũng được hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất là, điều được truyền đi, báo đi cho biết sự việc, tình hình xảy ra. Thứ hai là, sự truyền đạt, sự phản ánh dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó [21, tr. Khái niệm “Báo” được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất là, cho biết việc gì đó đã xảy ra.
Thứ hai là, cho người có trách nhiệm nào đó biết về việc xảy ra có thể hại đến trật tự an ninh chung…là dấu hiệu biết trước [21, tr. Trên bình diện pháp lý, Luật Tố cáo năm 2011 quy định: Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức (khoản 1 Điều 2) [26]. Tố cáo ở đây là khái niệm chung, là việc công dân thực hiện quyền của mình báo tin về tất cả các hành vi vi phạm pháp luật nói chung cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết. Tùy theo lĩnh vực pháp luật bị vi phạm mà 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người ta phân biệt các loại tố cáo khác nhau.
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về TTHS (khoản 3 Điều 31). Việc tố giác và tin báo về tội phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật về TTHS (khoản 1 Điều 3) [26]. Như vậy, trong TTHS tố cáo hành vi phạm tội được gọi là tố giác về tội phạm. Đây chính là việc thuộc nội dung khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm [39].
Tố cáo và tố giác về tội phạm có những điểm khác biệt nhất định. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật, không phân biệt tính chất, mức độ vi phạm. Còn tố giác về tội phạm chỉ bao gồm hành vi vi phạm pháp luật có thể cấu thành tội phạm đã được quy định trong BLHS. Do đó, có thể nói khái niệm tố cáo rộng hơn và cơ bản đã bao hàm cả khái niệm tố giác về tội phạm theo luật TTHS.
Điểm khác biệt cơ bản giữa hai khái niệm này là: Tố cáo là quyền của công dân, còn tố giác về tội phạm vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của công dân. Quan hệ pháp luật về tố cáo hành vi vi phạm pháp luật chỉ phát sinh sau khi công dân thực hiện quyền tố cáo, còn quan hệ pháp luật tố giác về tội phạm thì phát sinh ngay sau khi công dân biết về tội phạm. Công dân có quyền quyết định việc mình sẽ tố cáo hay không một hành vi vi phạm pháp luật nhưng bắt buộc phải tố giác nếu đã biết rõ về một số tội phạm quy định tại Điều 313 BLHS đang được chuẩn bị hoặc đã được thực hiện. Công dân có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội: “Không tố giác tội phạm” theo Điều 314 BLHS nếu biết mà không tố giác tội phạm.
Ở phương diện phản ánh, những thông tin về tội phạm là kết quả phản ánh của những tội phạm đó trong hiện thực khách quan, tồn tại ở dạng vật chất, đó là tín hiệu thông tin. Sự thay đổi trong môi trường do tội phạm gây ra là nội dung, còn hình thức biểu hiện của những thông tin đó là tiếng nói và chữ viết của con người. Trong hoạt động điều tra tội phạm, tín hiệu thông tin có thể tồn tại ở hai dạng: Vật chất và tư tưởng, ý nghĩ. Hai hình thức tồn tại 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của tín hiệu thông tin này chính là sự đa dạng của những dấu vết do tội phạm để lại trong môi trường xung quanh.
Ở phương diện điều tra khám phá tội phạm tin báo, tố giác về tội phạm là những thông tin ban đầu, có ý nghĩa rất lớn cho các cơ quan pháp luật xem xét tính chất nghiêm trọng hay không của sự việc đã được những chủ thể báo tin, tố giác đến; tính chính xác và độ tin cậy của các thông tin đến đâu; có dấu hiệu của tội phạm hay không… Tin báo, tố giác về tội phạm là căn cứ để CQĐT mở ra những hoạt động điều tra, xác minh theo luật định. Có nhiều cách hiểu về tin báo, tố giác về tội phạm. Có quan điểm xác định: Chỉ có tin báo do nhân dân, đài báo, cơ quan, tổ chức cung cấp, kiến nghị mới là tin báo, tố giác về tội phạm; hoặc có quan điểm cho rằng mọi thông tin liên quan đến tội phạm đều là tin báo, tố giác. Có quan điểm nêu: Tố giác về tội phạm là việc công dân tố giác về hành vi tội phạm được quy định trong BLHS, còn tin báo về tội phạm là những thông tin về tội phạm được quy định trong BLHS do cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội cung cấp cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết; do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thú [50].
Quan điểm khác cho rằng: Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện, tố cáo người phạm tội hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 100, Điều 101 và Điều 103 của BLTTHS năm 2003. Tin báo về tội phạm là việc các cơ quan, tổ chức báo tin hoặc đăng tin có nội dung phản ánh về tội phạm xảy ra cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 100, Điều 101 và Điều 103 của BLTTHS năm 2003 [44]. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trái lại, có quan điểm xác định rằng không thể phân biệt giữa tin báo và tố giác về tội phạm. Hiện nay, có quan điểm đưa ra khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm không rõ đối tượng; dựa theo sự phân loại tin báo, tố giác về tội phạm mà người báo tin, tố giác và kể cả CQĐT tiến hành xác minh nhưng không xác định rõ đối tượng gây ra.
Ví dụ, một người báo mất chiếc xe mô tô trị giá trên 30 triệu đồng nhưng không xác định ai là người đã trộm cắp chiếc xe đó. Cách hiểu này không đúng với bản chất của tin báo, tố giác về tội phạm. Dù rõ hay không rõ đối tượng, đó vẫn là tin báo, tố giác về tội phạm. Cách hiểu trên dẫn đến tình trạng các cơ quan có thẩm quyền không đưa vào giải quyết và kiểm sát việc giải quyết đối với tin báo, tố giác về tội phạm loại này, hệ quả của nó là việc đánh giá tình hình tội phạm chưa chính xác, làm hạn chế kết quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Các quan điểm trên chưa nêu rõ, đầy đủ về khái niệm tin báo và tố giác về tội phạm, chưa phân biệt rõ tố giác và tin báo, hoặc là nhấn mạnh tiêu chí không thuộc nội hàm của khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm.