Chương 1 của Luận văn, học viên sẽ tập trung phân tích và làm rõ một số hạn chế trong thực tiễn thực hiện hoạt động này về: (i) kiểm sát việc giao hoặc gửi bản án cho Viện kiểm sát; (ii) kiểm sát nội dung của bản án; (iii) Trách nhiệm của Viện kiểm sát khi phát hiện bản án có vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật 5. Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án”. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên Khi được Viện trưởng Viện kiểm sát phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, Kiểm sát viên có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: 5.
Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án. Kiểm sát việc giao hoặc gửi bản án cho Viện kiểm sát Khoản 2 Điều 269 BLTTDS 2015 quy định: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải giao hoặc gửi bản án cho […] VKS cùng cấp”. Theo đó, trong thời hạn 10 ngày bắt đầu kể từ ngày TA tuyên án thì BLTTDS 2015 quy định buộc TA phải thực hiện việc ban hành bản án tống đạt đến các đối tượng được nhận bản án trong khoản thời gian này, nếu hết thời hạn nói trên Tòa án không thực hiện thì xem là vi phạm thời hạn gửi bản án. Điều luật quy định TA phải giao hoặc gửi bản án cho VKS cùng cấp, không phân định rõ trường hợp nào thì TA giao, trường hợp nào TA gửi bản án.
Căn cứ theo quy định tại Điều 175 BLTTDS 2015 thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng có thể hiểu giao bản án là tống đạt trực tiếp cho đối tượng được nhận bản án. Gửi bản án được hiểu là gửi qua dịch vụ bưu chính phải bằng thư bảo đảm và có xác nhận của người nhận văn bản. Với quy định này TA có thể lựa chọn hai hình thức giao hoặc gửi để tống đạt bản án đến VKS nhưng vẫn phải đảm bảo tại thời điểm giao hoặc gửi bản án không quá 10 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với việc gửi bản án qua đường bưu điện thì dấu bưu điện trên bì thư ngày TA gửi bưu điện được xác định là ngày TA thực hiện nghĩa vụ giao bản án cho VKS cùng cấp.
Theo số liệu thống kế (từ năm 2016-2020) số lượng bản án TA vi phạm thời hạn giao hoặc gửi cho VKS cùng cấp được thể hiện qua các bản Kiến nghị tổng hợp của một số VKS địa phương như sau3: Số Bản Đơn vị Thời gian tập hợp án gửi Thời gian gửi chậm chậm 01/9/2016 đến 22/11/2016 03 từ 06 đến 20 ngày VKS huyện 01/12/2016 đến 30/3/2017 03 từ 14 đến 19 ngày Tánh Linh 15/6/2017 đến 31/8/2017 04 từ 05 đến 14 ngày 01/12/2020 đến 20/5/2021 04 4 đến 07 ngày 01/12/2015 đến 20/5/2016 09 từ 02 đến 17 ngày VKS Tp. Phan Thiết 01/12/2019 đến 30/9/2020 05 Từ 07 đến 32 ngày 01/12/2020 đến 30/10/2021 03 Từ 10 đến 19 ngày VKS huyện 01/12/2015 đến15/5/2016 18 chậm nhất 46 ngày Hàm Thuận 17/5/2016 đến 24/10/2016 04 chậm nhất 177 ngày Nam 01/12/2019 đến 26/3/2020 01 chậm 49 ngày 3 Xem Phụ lục số 1 của Luận văn. 10 Theo kết quả thống kê trên, từ năm 2016 đến năm 2021 luôn có trường hợp TA vi phạm thời hạn gửi bản án chậm cho VKS, có bản án chậm đến 177 ngày. Các VKS đã tập hợp những bản án vi phạm thời hạn gửi theo quý, 06 tháng để ban hành một kiến nghị tổng hợp gửi đến TA để yêu cầu TA chấn chỉnh khắc phục.
Nhưng trên thực tế, vi phạm trên vẫn tái diễn qua các năm, không được khắc phục triệt để. Bởi lẽ, theo nội dung quy định tại khoản 2 Điều 269 BLTTDS 2015 thì pháp luật mới chỉ thể hiện trách nhiệm của TA phải kịp thời gửi bản án cho VKS mà chưa có bất kỳ quy định hoặc hướng dẫn nào về phương thức xử lý đối với việc TA vi phạm thời gian gửi bản án hoặc không gửi bản án cho VKS và trách nhiệm của Thẩm phán khi vi phạm thời hạn gửi bản án. Nghiên cứu QĐ số 399/QĐ-VKS tại Điều 6 có nêu: “[…] Công chức căn cứ vào ngày tuyên án sơ thẩm, ngày gửi theo dấu bưu điện trên bì thư và ngày VKS nhận được bản án sơ thẩm để xác định Tòa án có vi phạm”. Tuy nhiên, VKSNDTC cũng không hướng dẫn rõ phương thức xử lý khi xác định TA có vi phạm như thế nào.
Tiếp theo, quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 5 QĐ số 399/QĐ-VKS có nội dung: “Trường hợp phát hiện bản án, quyết định có vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm […] để xem xét kháng nghị hoặc kiến nghị theo thẩm quyền. Đối với vi phạm ít nghiêm trọng, công chức đề xuất lãnh đạo Viện kiểm sát thực hiện quyền kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm đối với vụ án cụ thể hoặc tổng hợp vi phạm để ban hành kiến nghị chung”. Có thể thấy rằng, theo quy định nêu trên chỉ quy định chủ yếu là vi phạm về nội dung của bản án, việc bản án gửi chậm không phải là lý do để thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm. Vậy trong trường hợp này VKS chỉ có thể thực hiện quyền kiến nghị TA để khắc phục vi phạm tương tự.
Bên cạnh đó, việc QĐ số 399/QĐ-VKS không quy định cụ thể cách thức xử lý về việc TA vi phạm thời gian gửi bản án hoặc không gửi bản án cho VKS sẽ dẫn đến nhiều cách làm khác nhau. Cụ thể: Quan điểm thứ nhất, trong trường hợp Tòa vi phạm thời hạn gửi bản án cho VKS thì VKS sẽ tập hợp theo quý hay 06 (sáu) tháng rồi ban văn bản kiến nghị tổng hợp chung chung để TA biết và chấn chỉnh. Quan điểm trên lý giải việc vi phạm thời hạn gửi bản án là vi phạm ít nghiêm trọng chỉ cần tập hợp nhiều bản án trong một khoảng thời gian nhất định 11 để kiến nghị tổng hợp, việc kiến nghị từng văn bản mang tính chất nhỏ lẻ, “vạch lá tìm sâu”. Nhưng có quan điểm khác lại cho rằng, đối với những bản án vi phạm thời hạn gửi dẫn đến VKS hai cấp không còn thời gian kháng nghị cần phải thực hiện văn bản kiến nghị ngay chứ không tập hợp kiến nghị chung.
Ngoài ra, việc không quy định cụ thể thực hiện kiến nghị “khi nào” cũng dẫn đến việc né tránh của một số lãnh đạo VKS vì ngại va chạm với TA cùng cấp nên cũng không kiến nghị việc gửi trễ bản án của TA nhưng lại có văn bản đề nghị VKS cấp trên trực tiếp kháng nghị nhằm mục đích giảm trách nhiệm đối với số vụ án bị cấp phúc thẩm hủy sửa nhưng không kháng nghị của cấp mình. Theo học viên, về trách nhiệm trả lời kiến nghị trong hoạt động kiểm sát bản án của VKS phải được thực hiện chung trên nền tảng quy định tại khoản 2, Điều 5 LTCVKSND 2014 “2. Trường hợp hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng không thuộc trường hợp kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này thì Viện kiểm sát nhân dân kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân đó khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật; […] Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật.” Điều 35 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31 tháng 8 năm 2016 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối cao quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong việc thi hành một số quy định của BLTTDS có quy định “Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của VKS theo hướng dẫn tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, TA phải xem xét và trả lời bằng văn bản cho VKS đã kiến nghị biết. Trường hợp vụ việc phức tạp, cần có thêm thời gian thì TA có văn bản thông báo lý do cho VKS biết và trả lời cho VKS trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị”.
Tuy nhiên đây là quy định trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo không phải hoạt động kiểm sát bản án sơ thẩm của TA. Vì vậy thời gian trả lời kiến nghị khắc phục vi phạm trong hoạt động kiểm sát bản án, nội dung văn bản trả lời kiến nghị của TA như thế nào thì hiện vẫn chưa có văn bản nào quy định và hướng dẫn thực hiện. Về biểu mẫu kiến nghị TA trong hoạt động kiểm sát bản án không có mẫu riêng, nên VKS thực hiện theo mẫu Kiến nghị khắc phục vi phạm số 10/DS được ban hành theo Quyết định số 388/QĐ-VKSTC ngày 01/7/2016 của VKSNDTC. 12 Chính từ thực trạng quy định của pháp luật dẫn đến nội dung các bản kiến nghị, thời hạn trả lời kiến nghị của TA và nội dung văn bản trả lời kiến nghị của TA cũng không được thực hiện thống nhất.
Cụ thể trong thực tiễn hoạt động kiểm sát bản án, khi phát hiện TA có vi phạm thời hạn gửi bản án, cách thức thực hiện của mỗi VKS chưa thống nhất, có một số bất cập sau: Một là, Kiểm sát viên thực hiện kiến nghị tổng hợp trong một thời gian nhất định (quý hoặc 06 tháng) đối với vi phạm chậm gửi bản án, nhưng nội dung văn bản kiến nghị không thống nhất. Ví dụ 1: Tại Kiến nghị số 10 ngày 30/9/2020 của VKS huyện HTN về việc chậm gửi bản án, có nội dung “Yêu cầu đồng chí Chánh án Tòa án huyện HTN có biện pháp chỉ đạo kiểm tra, tổ chức họp kiểm điểm làm rõ trách nhiệm cá nhân, rút kinh nghiệm để khắc phục những vi phạm nêu trên. Trả lời cho VKS huyện HTN biết về kết quả thực hiện kiến nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị”. Trong bản Kiến nghị này VKS yêu cầu TA phải tổ chức họp kiểm điểm làm rõ trách nhiệm cá nhân khi để xảy ra vi phạm và phải có văn bản trả lời kiến nghị trong thời hạn 15 ngày.