Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Ở các nước trên thế giới 1. Nghiên cứu về quy trình kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT Có rất nhiều nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, đặc biệt các công trình thuộc các nước phát triển sớm về KĐCLGD như Mỹ, Úc, Anh và các nước Châu Á như Ấn Độ, Philipin đã đề cập về nhiều khía cạnh khác nhau của KĐCLGD.
Elain El Khawas (2001) - Kiểm định chất lượng ở Mỹ: Nguồn gốc, sự diễn biến và triển vọng cho tương lai (Accreditation in the USA: Origin, developments and future prospect). Nghiên cứu đã nêu ra được một cách rõ ràng và chi tiết tiến trình kiểm định bắt đầu từ định nghĩa về kiểm định chất lượng, các hình thức kiểm định như kiểm định cơ sở đào tạo, kiểm định chương trình đào tạo, sự phát triển của hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục của Mỹ trong những năm gần đây, cách thức tiến hành quá trình kiểm định bao gồm thực hiện báo cáo tự đánh giá, đánh giá ngoài và công nhận mức độ đáp ứng của nhà trường hay chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn. Đặc biệt, công trình đã nêu lên được những cơ hội và thách thức cho lĩnh vực KĐCLGD, những tác động của kiểm định chất lượng đến việc nâng cao chất lượng của nhà trường, cũng như rút ra được những bài học cho lĩnh vực này. Tuy nhiên, nội dung công trình phần lớn nói về KĐCLGD đại học, chỉ phân tích một phần nhỏ về kiểm định chất lượng trường phổ thông [19].
Nhóm các tác giả Janet Fairman, Brendra Peirce và Walter Harris (2009) với công trình “Kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT tại Maine: Nhận thức về chi phí và lợi phí” (High school accreditation in Maine: Perception of cost and benefits) thuộc trung tâm Nghiên cứu và Đánh giá giáo dục và Phát 5 triển con người thuộc Đại học Maine-Mỹ. Với công trình này, nhóm tác giả đã trình bày rất rõ quy trình kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT tại Mỹ, gồm tự đánh giá, đánh giá ngoài theo bộ tiêu chuẩn và công nhận kiểm định chất lượng thông qua các nghiên cứu điển hình, thực tế từ 40 trường THPT được kiểm định bởi NEASC (The New England Association of School and Colleges). Công trình đã rút ra những kinh nghiệm thực tiễn rất giá trị trong quá trình KĐCLGD trường THPT và đề ra các giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động KĐCLGD trường THPT [20]. Eaton (2011) - Kiểm định chất lượng giáo dục ở Mỹ: Đáp ứng với thách thức của việc giải trình trách nhiệm và thành quả của sinh viên (U.Accreditation: Meeting the Challenges of Accountability and Student Achievement).
Nghiên cứu này đã chỉ rõ ra được những thách thức lớn đối với kiểm định chất lượng các trường đại học Mỹ hiện nay là kết quả của KĐCLGD có tác động như thế nào đến thành quả của người học trong nhà trường. Bởi lẽ, KĐCLGD của Mỹ hiện nay được cho là có lịch sử lâu đời với sự phân quyền, đa dạng và phức tạp cùng với cách thức, quy trình, tổ chức quản lý. Ngoài ra bài báo cũng nêu lên được cơ cấu tổ chức phức tạp giữa các tổ chức KĐCLGD và chính quyền liên bang [21]. Nghiên cứu về tổ chức thực hiện tự đánh giá và viết báo cáo tự đánh giá theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục Sổ tay thực hiện các hướng dẫn đảm bảo chất lượng trong mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (ASEAN University Network – Quality Assurance Guidelines -2009) của Hiệp hội các nước ASEAN đã trình bày rất rõ về mô hình đảm bảo chất lượng bên trong của các trường đại học thuộc khối ASEAN cũng như quy trình, thủ tục các công đoạn cần thiết trong quá trình tự đánh giá.
Đặc biệt, nghiên cứu này đã trình bày rất rõ về mục đích của việc tự đánh giá theo tiêu chí là nhằm giúp cho nhà trường tự cải tiến và hoàn thiện hơn. Hơn nữa, nghiên cứu này đã đưa ra 7 mức độ trong thang đo để đánh giá 6 một tiêu chí. Điều này có nghĩa là khi nhà trường tự đánh giá qua các tiêu chí là hết sức thận trọng cho từng mức đạt được, phải giải trình minh chứng đính kèm rất rõ ràng, cụ thể [1]. Nguyễn Thị Thanh Phượng (2005) với luận án tiến sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục “Xác nhận lại kiểm định chất lượng và nâng cao chất lượng giáo dục như một cuộc hành trình: Một nghiên cứu điển hình”(Reaffirmation of accreditation and quality improvement as a journey: A case study) tại đại học Texas của Mỹ.
Luận án đã đi sâu vào phân tích khá kỹ về công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học của Mỹ hiện nay, bao gồm các chính sách, chủ trương cơ chế cũng như quy trình thủ tục, phương pháp, nội dung, chuẩn mực trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học của Mỹ. Đặc biệt, luận án đã phân tích quá trình thực hiện báo cáo tự đánh giá của nhà trường là một quá trình thực hiện các hoạt động đảm bảo chất lượng trong nhà trường. Trong nghiên cứu này đã chỉ rõ quá trình tự đánh giá là khâu đầu tiên và rất quan trọng trong quá trình kiểm định [23]. Tuy nhiên, đây là chỉ nghiên cứu về kiểm định chương trình đào tạo ở bậc đại học.
Nghiên cứu về tổ chức đánh giá ngoài và công nhận mức chất lượng theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục Nguyễn Thị Thanh Phượng (2005) đã nghiên cứu sâu các hoạt động đánh giá ngoài trong quy trình kiểm định chất lượng giáo dục cụ thể tại trường đại học phía Nam nước Mỹ (United States Sigma University). Nghiên cứu này đã chỉ rõ mục đích của đánh giá ngoài là chuyến viếng thăm đồng nghiệp do cơ quan kiểm định chất lượng thành lập. Thành phần của đoàn đánh giá ngoài từ 5 đến 7 thành viên đến khảo sát và làm việc tại trường được kiểm định. Những nhận xét, đánh giá, góp ý của đoàn đánh giá ngoài mang lại giá trị rất cao cho nhà trường trong việc cải tiến chất lượng và định hướng phát triển nhà trường.
Nhóm các tác giả Janet Fairman, Brendra Peirce và Walter Harris (2009) cũng đã trình bày rất kỹ về kỹ thuật đánh giá ngoài. Theo nhóm tác giả này, 7 những thành viên đoàn đánh giá ngoài là những người có ít nhất 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục và họ cũng là những người đến từ các cơ sở giáo dục phổ thông khác. Tuy nhiên, những thành viên đánh giá ngoài này được các tổ chức kiểm định đào tạo các khóa ngắn hạn về kiểm định, về cách đánh giá nhà trường qua báo cáo tự đánh giá. Đặc biệt, trong công trình này đã nêu lên được những trở ngại khi điều động các thành viên từ các cơ sở giáo dục khác nhau.
Ngoài ra, công trình này cũng đã chia sẽ kinh nghiệm trong quản lý về đào tạo bồi dưỡng kiểm định viên. Quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục tại một số nước Kiểm định chất lượng một cơ sở giáo dục nói chung và một trường THPT nói riêng là một trong những hoạt động còn mới không chỉ ở Việt Nam mà cả ở một số quốc gia có nền giáo dục phát triển. Việc hình thành các tổ chức KĐCLGD và quản lý các tổ chức này tùy thuộc vào từng quốc gia. Quản lý kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT tại Mỹ Mỹ là quốc gia có bề dày lịch sử về kiểm định chất lượng giáo dục lâu đời nhất trên thế giới, từ năm 1787 tại bang New England.
Đặc biệt, ở Mỹ có 2 tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục không trực tiếp kiểm định các cơ sở giáo dục mà chỉ làm nhiệm vụ công nhận các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục khác. Đó là Bộ Giáo dục liên bang (United State Department of Education viết tắt là USDE) và Hội đồng Kiểm định chất lượng giáo dục đại học (Council for higher Education Accreditation viết tắt là CHEA), trong đó USDE là cơ quan chính phủ và CHEA là cơ quan phi chính phủ. Hai cơ quan này không trực tiếp kiểm định các trường mà cấp phép kiểm định cho các tổ chức kiểm định có đủ điều kiện hành nghề. Ở Mỹ có 3 loại kiểm định là: Kiểm định quốc gia, kiểm định vùng và kiểm định chuyên ngành.
Hơn nữa, ở Mỹ sáu tổ chức kiểm định ở sáu vùng địa lý như: tổ chức New England Association of Schools and Colleges viết tắt là NEASC là tổ chức kiểm định vùng đầu tiên tại Mỹ. Ngoài ra, còn có 5 tổ chức 8 kiểm định vùng khác như: vùng Trung Mỹ (The Middle States Association of Colleges and Schools viết tắt là MSACS), vùng Nam Mỹ (The Southern Association of Colleges and Schools viết tắt là SACS), vùng Trung Bắc Mỹ (The North Central Association of Colleges and Schools viết tắt là NCACS), vùng Bắc Mỹ (The Northwest Assciation of School and Colleges viết tắt là NASC), vùng Tây Mỹ (The Western Association of Schools and Colleges viết tắt là WASC) là những tổ chức uy tín nhất về chuyên môn. Kiểm định chất lượng giáo dục Mỹ có tính độc lập cao, có tính tự nguyện được thực hiện thông qua đánh giá đồng cấp với tinh thần chấp thuận tuân thủ chính sách và các tiêu chuẩn đặt ra theo từng đạo luật của từng bang, đặc biệt là sự tuân thủ bộ tiêu chuẩn ngay cả khi không có giám sát. Việc kiểm định chất lượng giáo dục các trường phổ thông ở Mỹ thực hiện hai chức năng, một là đảm bảo chất lượng đối với xã hội, trường có xứng đáng nhận được sự tin tưởng của công chúng hay không, và hai là cải thiện chất lượng đối với trường, quy trình kiểm định góp phần cải tiến chất lượng trường [24], [25].
Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường phổ thông ở Mỹ, khác biệt nhau theo từng vùng và lãnh thổ của Mỹ cũng như đạo luật của từng bang. Tuy nhiên, vẫn tập trung vào các lĩnh vực như: Sứ mạng; Kế hoạch và đánh giá; Tổ chức và quản trị; Chương trình đào tạo; Giáo viên; Học sinh; Thư viện và các nguồn thông tin khác; Cơ sở vật chất và công nghệ; Nguồn tài chính; …. Chu kỳ kiểm định chất lượng từ 3 đến 5 năm cũng tùy thuộc vào vùng khác nhau. Bao gồm các bước: Tự đánh giá theo tiêu chuẩn; Đăng ký đánh giá ngoài; Đánh giá ngoài; Công nhận [24], [25].