Khóa luận: Phân tích Kí của Lan Khai từ lí thuyết trường văn học

Luận văn phân tích Kí của Lan Khai qua lý thuyết trường văn học, làm rõ vị thế và quan điểm nghệ thuật của ông trong văn học cách tân 1930-1945.

Chuyên ngành

Lí luận văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2023

116
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm về Lý thuyết Trường Văn học và Tầm quan trọng của nó

Lý thuyết trường văn học là một công cụ phân tích hữu hiệu trong nghiên cứu văn học hiện đại. Khác với các phương pháp truyền thống chỉ tập trung vào văn bản hoặc ngữ cảnh xã hội riêng lẻ, lý thuyết này xem xét mối quan hệ tương tác giữa văn bản và chủ thể trong nhiều khu vực tiếp xúc thẩm mỹ. Lý thuyết trường ra đời nhằm dẫn giải vị thế của nhà văn trên văn đàn bằng cách phân tích những tác nhân ảnh hưởng đến quá trình kiến tạo tác phẩm. Đặc biệt, lý thuyết này giúp nhận diện hành trình sáng tạo của một nghệ sĩ, từ những ảnh hưởng từ khu vực văn học trung tâm đến ngoại biên, qua đó phân tích sự phát triển và tồn tại của hiện tượng, khuynh hướng văn học. Điều này làm cho lý thuyết trường trở thành công cụ đắc lực cho các nhà nghiên cứu văn học.

1.1. Định nghĩa Lý thuyết Trường trong Văn học

Lý thuyết trường không chú trọng phân biệt giữa yếu tố bên trong hay bên ngoài văn bản, mà tập trung vào mối liên hệ động giữa các yếu tố này. Theo lý thuyết này, một tác phẩm văn học được hình thành từ sự tương tác của nhiều yếu tố: từ khuynh hướng thẩm mỹ, xu hướng xã hội, cho đến vị thế cá nhân của tác giả. Nó cung cấp cách nhìn toàn diện về quá trình sáng tạo văn học.

1.2. Vai trò của Lý thuyết Trường trong Phân tích Văn bản

Vai trò chính của lý thuyết trường là giúp phân tích những lớp diễn ngôn mà nhà văn tạo lập trong văn bản. Nó cho phép chúng ta hiểu rõ hơn về cách một tác giả chiếm lĩnh hiện thực, cách họ tương tác với các truyền thống văn học trước đó, và cách họ tạo nên những sáng tạo mới. Điều này đặc biệt quan trọng khi nghiên cứu các tác phẩm trong các giai đoạn chuyển tiếp của văn học.

II. Hành trình Kí của Lan Khai trong Trường Văn học Cách tân 1930 1945

Lan Khai là một cây bút kí xuất sắc trong giai đoạn văn học cách tân (1930-1945), thời kỳ văn học Việt Nam chứng kiến những thay đổi sâu sắc về nội dung và hình thức. Mặc dù Lan Khai nổi tiếng với danh xưng "lão tướng" trong lĩnh vực tiểu thuyết lịch sử và truyện đường rừng, nhưng những tác phẩm kí của ông lại thể hiện một phong cách sáng tạo độc đáo và khác biệt. Trong thể loại kí, Lan Khai đã kế thừa truyền thống từ những tác phẩm cổ điển như Công dư tiệp kí, Vũ trung tuỳ bút, nhưng đồng thời hiện đại hóa chúng theo tinh thần của thời đại. Sự viết kí của Lan Khai là quá trình trải hiện tiếng lòng với cuộc đời, là tri nhận những góc nhìn mới về hiện thực. Tác phẩm kí của ông không chỉ là những tập hợp tư liệu sinh động về cuộc sống, mà còn là những biểu lộ sâu sắc về nhân sinh quan.

2.1. Điều kiện Văn học và Xã hội của Giai đoạn 1930 1945

Giai đoạn 1930-1945 là thời kỳ sôi động của văn học Việt Nam khi phong trào cách tân văn học đạt đỉnh cao. Những tác giả như Tam Lang, Trương Vĩnh Ký, Vũ Trọng Phụng cùng nhau tạo nên một trường văn học mới. Trong bối cảnh này, thể loại kí được hiện đại hóa cả về nội dung lẫn hình thức, gắn chặt với những đổi thay của xã hội.

2.2. Quan điểm Nghệ thuật và Phong cách Sáng tạo của Lan Khai

Quan điểm nghệ thuật của Lan Khai nhấn mạnh cá tính sáng tạotính chân thực trong viết lách. Ông không tuân theo các khuôn mẫu cũ mà tạo nên những lối viết đề cao tính nhân văn. Phong cách kí của Lan Khai hòa quyện giữa trữ tình và kịch tính, tạo nên những tác phẩm vừa sâu sắc tâm lý vừa sinh động hiện thực.

III. Định chế Xã hội Văn học và Những Tác nhân Tạo sinh Trường Lực trong Kí Lan Khai

Định chế xã hội văn học đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nên những tác phẩm kí của Lan Khai. Lý thuyết trường văn học cho phép chúng ta phân tích những tác nhân xã hội như truyền thống từ kí cổ điển, ảnh hưởng của những tác giả khác, sự thay đổi của xã hội, và những yêu cầu của độc giả thời đó. Kí của Lan Khai thể hiện rõ hai cực đối lập: "cực tự chủ" - nơi chủ thể tự quyết định góc nhìn của mình, và "cực quyền lực" - nơi những lực lượng xã hội và thẩm quyền diễn ngôn tác động lên cách thức biểu hiện. Cái tôi trong kí Lan Khai không đơn thuần là cái tôi trần thuật mà đã nâng cao thành cái tôi thẩm mỹ, thậm chí là cái tôi siêu vị hoá trong dòng chảy cuộc đời. Từ đó, Lan Khai xác lập quyền năng nhân vị trong tinh thần hữu thể, tạo nên những tác phẩm vừa cá nhân vừa phổ quát.

3.1. Cực Tự chủ Từ Cái tôi Trần thuật đến Cái tôi Siêu vị

Trong kí Lan Khai, cái tôi trần thuật của những ghi chép bề ngoài được nâng lên thành cái tôi thẩm mỹ - một cái tôi suy ngẫm và phán xét. Đây không phải là sự kể chuyện đơn giản mà là một lối nhìn siêu vị hoá, nơi mà những sự kiện đời sống trở thành những biểu tượng cho những chân lý nhân sinh sâu sắc hơn.

3.2. Cực Quyền lực Thẩm quyền Diễn ngôn và Vị thế Xã hội

Thẩm quyền diễn ngôn trong kí Lan Khai xuất phát từ vị thế xã hội của nhân vật và tác giả. Lan Khai không chỉ ghi lại những sự kiện mà xác lập quyền năng nhân vị thông qua cách lựa chọn từ ngữ, lựa chọn góc nhìn, và cách tổ chức nội dung. Điều này tạo nên vị thế độc lập cho tác phẩm kí trong trường văn học.

IV. Vốn và Chiến lược Tạo mã trong Thiết lập Vị thế cho Kí Lan Khai

Vốn trong lý thuyết trường văn học bao gồm những yếu tố tích lũy mà một tác giả sử dụng để tạo nên tác phẩm của mình: vốn ngôn ngữ, vốn thẩm mỹ, vốn kiến thức. Lan Khai sử dụng mã ngôn ngữ một cách tinh tế, kết hợp giữa ngôn ngữ đời sống bình dân và ngôn ngữ thi ca để tạo sinh các mã biểu tượng phong phú. Chiến lược tạo mã của Lan Khai còn thể hiện qua mã thể loại - ông không chỉ tuân theo quy tắc kí truyền thống mà còn dung hợp những yếu tố từ truyện ngắn, tiểu thuyết, và kịch. Trong kí Lan Khai, có ảnh hưởng của tư duy trữ tình - cái nhìn cảm xúc, cá nhân - nhưng cũng gặp gỡ ánh sáng kịch - cái nhìn khách quan, xã hội. Những chiến lược này giúp Lan Khai thiết lập vị thế độc đáo cho kí của mình trong trường văn học cách tân, vừa kế thừa truyền thống vừa tạo nên sáng tạo mới.

4.1. Mã Ngôn ngữ Hạt nhân Cấu trúc Trường Văn bản Kí

Mã ngôn ngữ là nền tảng cơ bản tạo sinh tất cả các mã khác trong kí Lan Khai. Từ ngôn ngữ đời sống - những từ bình dân, gần gũi - Lan Khai nâng lên thành ngôn ngữ thi ca - những hình ảnh, biểu tượng đầy chất thơ. Việc kết hợp này tạo sinh các mã biểu tượng độc đáo, làm cho những ghi chép đời sống trở thành những tác phẩm nghệ thuật.

4.2. Mã Thể loại Những Biến thể trong Trường Tương tác

Kí của Lan Khai không là thể loại thuần túy mà là sự dung hợp của nhiều thể loại. Dưới ảnh hưởng của tư duy trữ tình, kí mang tính cá nhân, cảm xúc sâu sắc. Nhưng cũng có ánh sáng kịch - tính xã hội, tính nhân vật, tính sự kiện rõ nét. Sự hòa quyện này với truyện ngắn và tiểu thuyết tạo nên một thể loại kí độc đáo và hiện đại.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/12/2025
Kí của lan khai nhìn từ lí thuyết trường văn học

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề Trường (field) thì nó mới trở thành hướng nghiên cứu nhận được nhiều sự quan tâm trong giới khoa học. Để đi sâu tìm hiểu về lý thuyết Trường và đặc biệt là trường văn học, việc nắm được khái niệm “Trường”, những đặc điểm của trường văn học trong mối tương quan với trường tri thức và trường quyền lực là điều tối quan trọng. Quan niệm về “Trường” Khái niệm trường đã xuất hiện trong vật lý, trường lực là mối quan hệ giữa các phần tử trong một không gian theo quy luật hút và đẩy. Khái niệm này được chuyển đổi trong tâm lý học bởi Gestalt, đặc biệt là Wolfgang Köhler, người nhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau của các yếu tố trong trải nghiệm cảm nhận và phát triển phương 10 pháp tiếp cận địa hình (Levi Martin, 2003).

Kurt Lewin đã điều chỉnh nó thành tâm lý xã hội để xem xét các tương tác giữa một cá nhân và môi trường của họ. Bourdieu đã áp dụng khái niệm trường vào xã hội học để nghiên cứu về sự tác động lên cá nhân của cấu trúc xã hội. Theo định nghĩa của Bourdieu, trường là “không gian xã hội mà trong đó các tác nhân tham gia sản sinh ra các tác phẩm văn hoá được xác định vị trí” [63, tr. Ông cho rằng xã hội là một thực thể phức tạp nên muốn khám phá đối tượng cần phải xem xét những mối quan hệ xung quanh đối tượng đó.

Theo Bourdieu, khi tham gia vào trường, mọi cá nhân đều là chủ thể hành động có ý thức và biết tính toán. Các hành động xã hội quy dẫn về một “ý nghĩa thực hành” (sens practiques) được nội tâm hoá bởi các tác nhân (agents). Từ những thực hành trong trường sẽ giúp tác nhân định vị được vị thế. Tóm lại, khái niệm trường Bourdieu được hiểu là một không gian xã hội mang tính cạnh tranh giữa các tác nhân buộc chủ thể phải sử dụng vốn (capitals) của mình để xây dựng chiến lược riêng và nâng cao vị thế.

Với xuất phát điểm nghiên cứu lý thuyết trường từ góc nhìn của xã hội học và triết học, P. Bourdieu đã nỗ lực trong việc ứng dụng lý thuyết này vào các lĩnh vực khác, trong đó có văn học. Ông ra sức dung hoà việc phân tích chủ quan lẫn khách quan của văn học nhưng khi phân tích trường văn học Bourdieu vẫn chú trọng vào các mối quan hệ khách quan tác động đến chủ thể sáng tạo. Những phân tích về nội tại văn bản cũng chỉ mới là sự phân tích tập trung vào cấu trúc xã hội tác động lên tâm tính cá nhân chứ chưa thật sự đi sâu khám phá nội tại văn bản và nhìn nhận những chủ thể nội tại một cách rốt ráo.

Chẳng hạn, khi phân tích tác phẩm Giáo dục tình cảm của Flaubert và đặt nó trong trường văn học Pháp, Bourdieu chỉ phân tích theo xu hướng xã hội học. Ông chỉ ra những cấu trúc xã hội ảnh hưởng lên mối quan hệ giữa Flaubert và trường chính trị, giữa Flaubert và những nhà văn cùng thời chứ chưa thật sự chỉ ra những nhân tố nào tác động đến phong cách viết của Flaubert và những chiến lược nghệ thuật trong Giáo dục tình cảm. Tiếp nối Pierre Bourdieu, Howard Becker chú trọng vào tương tác giữa các chủ thể khi phân tích về trường văn học và trường nghệ thuật. Becker định nghĩa thế giới nghệ thuật là “nơi những con người có tố chất nghệ sĩ tương hỗ lẫn nhau trong việc lấy cảm hứng từ hiện thực đời sống” [57, tr.

Becker cho rằng thế giới nghệ thuật (art world) là mạng lưới liên kết hoạt động của những con người có sự cộng tác với 11 nhau. Thế giới nghệ thuật hình thành nhờ sự đóng góp tri thức của mỗi cá nhân và tương tác giữa các cá thể. Becker đưa ra ba khái niệm: mạng lưới (networks), quy ước (convention) và tài nguyên (resources). Mạng lưới chính là sự tương tác và liên kết giữa các chủ thể khác nhau nhằm tạo nên sản phẩm nghệ thuật.

Quy ước là những thông lệ trong thế giới nghệ thuật buộc các cá nhân tham gia vào tuân theo để điều phối hành động của họ trong thế giới nghệ thuật đó. Tài nguyên là vốn mà chủ thể sở hữu được trong quá trình tương tác ở mạng lưới nghệ thuật. Như vậy khi mạng lưới nghệ thuật tan rã thì các quy ước nghệ thuật cũng bị phá huỷ theo và những chủ thể cũng mất đi nguồn tài nguyên của mình. Khái niệm thế giới nghệ thuật của H.Becker là mạng lưới liên kết các chủ thể nhờ vào tính linh hoạt xã hội và các thực hành tập thể.

Ông quan niệm rằng thế giới nghệ thuật và các tác nhân tham gia vào đó mang quan hệ cộng sinh. Những chủ thể này cũng được Becker phân tách ra nhiều nhóm nhỏ đa dạng như: các người nghệ sĩ cùng thời, nhà sản xuất, nhà chính trị, nhà biên tập … Qua đó có thể thấy, nếu H. Becker luôn truy tìm những yếu tố tác động đến sự ra đời của tác phẩm nghệ thuật thì P.Bourdieu lại quan tâm đến việc nhà văn đã sử dụng chiến lược nghệ thuật nào để chiếm được vị thế cao trong trường văn học. Tiếp nối sự mở đường của P.

Bourdieu và sau là H. Becker, Paul DiMaggio cùng với Walter Powell đã đưa ra khái niệm trường tổ chức (organizational field). Hai học giả cho rằng: “Theo lĩnh vực tổ chức, có nghĩa là những tổ chức, tổng thể, tạo thành lĩnh vực được công nhận của đời sống thể chế gồm: nhà cung cấp, người tiêu dùng tài nguyên và sản phẩm, các cơ quan quản lý và các tổ chức khác sản xuất các dịch vụ hoặc sản phẩm tương tự” [61, tr. Có thể hiểu, trường tổ chức được định nghĩa là một tập hợp các tổ chức ràng buộc người tham gia hoặc các nhóm tham gia phải tuân theo những cấu trúc được định sẵn.

Sự thống nhất của các trường tổ chức có được nhờ vào sự đồng dạng các chủ thể. Ba cấp độ đồng dạng mà nhóm nghiên cứu đưa ra là: cưỡng bức đồng dạng (coercive isomorphism), bắt chước đồng dạng (mimetic isomorphism) và quy phạm đồng dạng (normative isomorphism). Một định nghĩa khác cũng được Neil Fligstein và Doug McAdam đề xuất là trường hành động chiến lược (strategic action field) như sau “là một xã hội cấp trung gian có phân cấp thứ tự, là nơi các tác nhân (có thể là cá nhân hoặc tập thể) tương tác với kiến thức về nhau theo một tập hợp các hiểu biết chung về mục đích của lĩnh 12 vực này, các mối quan hệ trong lĩnh vực này (bao gồm ai có quyền lực và tại sao), và những quy tắc của lĩnh vực” [60, tr. Như vậy, có thể hiểu, trường hành động chiến lược là một xã hội trung gian nơi các tác nhân tương tác với nhau thông qua những tập hợp kiến thức được quy định trong chiến lược của trường để rồi tiếp tục tái sản xuất cơ chế đó.

Trường chiến lược chia nhỏ vấn đề và phân tích mục đích chiến lược của trường, vai trò của các tác nhân, luật chơi và cách thức các tác nhân tương tác để học hỏi và thay đổi chiến thuật. Lý thuyết trường hành động chiến lược vận dụng lý thuyết hành động tập thể (collective action theories) để lý giải cơ cấu tái sản xuất hành vi và trật tự xã hội. Fligstein và McAdam vẫn giữ nguyên ý tưởng của P. Bourdieu về lý thuyết trường như sự tự chủ của trường, các quy tắc trò chơi, sự bất bình đẳng về vị trí của các tác nhân và mối quan hệ giữa các vị trí của các tác nhân.

Tuy nhiên, trường hành động chiến lược làm mới lý thuyết trường ở chỗ đưa ra quan điểm rằng: vấn đề trung tâm của lý thuyết trường nằm ở trật tự xã hội được thiết lập. Họ đi truy tìm căn nguyên của trật tự và diễn tiến của nó trong trường. Tuỳ thuộc vào từng thời điểm và từng hoàn cảnh mà chiến lược hành động của các tác nhân sẽ khác nhau, chi phối trực tiếp đến trật tự xã hội. Mỗi lần chiến lược thay đổi sẽ gây ra những cuộc xung đột giữa những người nắm giữ những lợi thế và lợi ích trong trường.

Từ những ý kiến khác nhau về trường như trên, chúng tôi đưa ra cách hiểu của mình về trường như sau: trường là không gian xã hội tồn tại sự cạnh tranh và tương tác giữa các tác nhân tham gia vào đó. Các tác nhân muốn khẳng định vị thế của mình và lật đổ những quy luật bền vững thì phải dựa vào nguồn vốn để xây dựng những chiến lược nghệ thuật riêng. Nguyên lý tranh đấu này chính là động lực tồn tại của trường. Vì thế, trong mọi trường luôn tồn tại hợp lưu của những dòng lực được tạo ra từ chính các tác nhân tham gia.

Các dòng lực chi phối và ảnh hưởng liên tục lên cấu trúc của trường trong một thời gian nhất định. Nó còn tác động đến hành vi của các tác nhân để những hành vi ấy đi theo quy luật hiện tại của trường. Sự tương tác của trường văn học 1. Trường văn học và trường tri thức Trường tri thức chính là tập hợp những mối quan hệ giữa các tác nhân tham gia vào hệ thống sản xuất tri thức.

Hệ thống ấy gồm: nhà văn, nhà sản xuất, nhà phê bình, nhóm tác giả, giáo sư, kênh truyền hình. Bàn về trường tri thức, Bourdieu cho rằng: 13 “Không thể quy giản vào một tập hợp các tác nhân riêng biệt, vào một tổng thể bổ sung lẫn nhau của các yếu tố kề cận nhau một cách đơn thuần, trường tri thức, cũng giống như sự vận động của từ trường, tạo thành một hệ thống các dòng lực: nghĩa là những tác nhân hay tác tử hoặc những hệ thống tác nhân tham gia có thể được mô tả như là những lực mà khi được đặt định, khi đối lập nhau và được cấu thành, sẽ tạo cho trường một cấu trúc đặc thù của nó ở một thời điểm cụ thể trong thời gian. Mỗi chủ thể đó đều có sự đồng dạng trong các thực hành xã hội nên tạo ra một cấu trúc thuộc về trường tri thức tại các thời điểm khác nhau. Cấu trúc ấy làm nên tính tự chủ và chi phối các tác nhân mới tham gia phải tuân theo qui luật hiện hành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ