Chương 1: Những vấn đề lý luận về năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo. Chương 2: Thực trạng pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và thực tiễn thi hành tại Việt Nam. Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi tại Việt Nam. 12 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LƢỢNG XANH, NĂNG LƢỢNG SẠCH, NĂNG LƢỢNG TÁI TẠO VÀ PHÁP LUẬT VỀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƢ NĂNG LƢỢNG XANH, NĂNG LƢỢNG SẠCH, NĂNG LƢỢNG TÁI TẠO 1.
Những vấn đề lý luận về năng lƣợng xanh, năng lƣợng sạch và năng lƣợng tái tạo 1. Khái niệm về năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo NLX, NLS, NLTT đều là các dạng năng lượng nên chúng đều có những đặc điểm cơ bản như mọi loại năng lượng khác trong tự nhiên. Theo từ điển tiếng Việt: “Năng lượng” là danh từ chỉ đại lượng vật lý đặc trưng cho khả năng sinh công của một vật [53, tr. Theo thuyết tương đối của Albert Einstein, “năng lượng” được xác định là một thước đó khác của lượng vật chất được xác định theo công thức liên quan khối lượng toàn phần E = mc2 (khối lượng nhân với một hằng số có đơn vị là vận tốc bình phương).
Đơn vị để đo năng lượng trong hệ đo lường quốc tế là kg(m/s). Cho đến ngày nay, các nguồn năng lượng nêu trên vẫn đang được sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt và sản xuất, chủ yếu là sản xuất công nghiệp, đặc biệt là dầu khí. Hiện nay, vị thế của nguồn năng lượng từ dầu khí vẫn đang đóng vai trò quan trọng, mặc dù thế giới đang có khuynh hướng đa dạng hóa việc khai thác và sử dụng nhiều nguồn năng lượng khác nhau. Trong những năm gần đây, việc sử dụng các nguồn nguyên – nhiên – vật liệu hóa thạch tạo ra những quan ngại và nguy cơ về viễn cảnh thiếu hụt nguồn năng lượng này trong tương lai, cũng như những quan ngại về việc phát sinh những tác động tiêu cực của nguồn năng lượng này đến môi trường và ảnh hưởng đến biến đổi khí hậu.
Ở Việt Nam, có những quan điểm khác nhau về các khái niệm NLX, NLS, NLTT và cách sử dụng các khái niệm này, song khái niệm “năng lượng tái tạo” là khái niệm được sử dụng phổ biết nhất trong hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam. 13 Cụ thể, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về năng lượng tái tạo nằm trong các văn bản pháp luật khác nhau của Việt Nam. Tuy nhiên, hầu hết các định nghĩa được đưa ra bằng việc liệt kê các nguồn năng lượng tái tạo. Chẳng hạn, theo Thông tư số 32/2014/TT-BCT của Bộ Công thương ngày 09/10/2014 quy định về trình tự xây dựng, áp dụng Biểu giá chi phí tránh được và ban hành HĐMBĐ mẫu cho các nhà máy thủy điện nhỏ, NLTT được định nghĩa như sau: “Năng lượng tái tạo là năng lượng được sản xuất từ thủy điện nhỏ, gió, mặt trời, địa nhiệt, thủy triều, sinh khối, đốt chất thải rắn trực tiếp, khí chôn lấp rác thải, khí của nhà máy xử lý rác thải và khí sinh học” [4, Điều 2, khoản 12].
Theo Thông tư số 40/2014/TT-BCT của Bộ Công Thương ngày 05 tháng 11 năm 2014 quy định quy trình điều độ hệ thống điện quốc gia, “năng lượng tái tạo bao gồm: năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng thủy triều, năng lượng địa nhiệt, năng lượng sinh khối, năng lượng khí sinh học” [5, Điều 79, khoản 2]. Theo Quyết định số 2068/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, một trong các quan điểm phát triển của Việt Nam là: Chú trọng sử dụng các công nghệ đã được kiểm chứng trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, như thủy điện, năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng sinh khối, khí sinh học để phát triển các nguồn năng lượng tái tạo cung cấp có hiệu quả điện năng cho hệ thống điện quốc gia và nhiệt năng cho nhu cầu nhiệt trong sản xuất và sinh hoạt [43 Điều 1, điểm 3, mục I]. Theo Quyết định số 2139/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 05 tháng 12 năm 2011 về việc phê duyệt chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, một trong các chiến lược của Việt Nam là: Đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai các công nghệ sản xuất năng lượng từ các nguồn năng lượng tái tạo và năng lượng mới, bao gồm năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy triều, địa nhiệt, nhiên liệu sinh học, năng lượng vũ trụ [40, Điều 1, điểm 5a) mục IV]. Nhìn chung, NLTT được hiểu là những nguồn năng lượng mà nếu đo bằng 14 các chuẩn mực của con người là vô hạn.
Khái niệm vô hạn ở đây nên được hiểu theo hai nghĩa. Một là, năng lượng có thể nhiều đến mức không thể cạn kiệt trước sự sử dụng của con người (ví dụ: năng lượng mặt trời). Hai là, năng lượng có thể tự tái tạo được trong một khoảng thời gian ngắn và liên tục (ví dụ: năng lượng sinh khối). Về khái niệm “năng lượng sạch” và “năng lượng xanh” thì còn có các quan điểm khác nhau và việc sử dụng các khái niệm này chưa được thống nhất và hoàn toàn rõ ràng trong các văn bản pháp luật.
Hiện tại, ở nước ta, nhìn chung, còn có hai luồng quan điểm chính khác nhau về khái niệm năng lượng sạch: Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng năng lượng sạch là những nguồn năng lượng mà việc sử dụng, sản xuất chúng thân thiện với môi trường. Những người theo quan điểm này không xem tiêu chí “có thể tái tạo được” là bắt buộc đối với năng lượng sạch. Điều đó có nghĩa rằng, năng lượng sạch có thể có nguồn gốc từ nguyên, nhiên, vật liệu hóa thạch. Những người theo quan điểm này đề cao giải pháp khoa học – công nghệ trong việc sản xuất, sử dụng năng lượng hóa thạch đảm bảo ít hoặc không gây ô nhiễm môi trường cũng có thể được xem là năng lượng sạch (ví dụ: than sạch, năng lượng khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG)).
Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng năng lượng sạch là những nguồn năng lượng không phải năng lượng hóa thạch, có thể tái tạo được và việc sử dụng chúng thân thiện với môi trường hơn so với năng lượng hóa thạch. Những người theo quan điểm này dường như đồng nhất khái niệm năng lượng sạch với khái niệm năng lượng tái tạo. Thật vậy, trước đây, khoản 1 Điều 33 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 đã đưa ra khái niệm năng lượng sạch, năng lượng tái tạo như sau: “Năng lượng sạch, năng lượng tái tạo là năng lượng được khai thác từ gió, mặt trời, địa nhiệt, nước, sinh khối và các nguồn tái tạo khác”. Theo cách định nghĩa đó, Luật bảo vệ môi trường 2005 trước đây đồng nhất (hay không tách rời) hai khái niệm năng lượng sạch và khái niệm năng lượng tái tạo.
Đến nay, Luật Bảo vệ môi trường 2014 đã khắc phục vấn đề này bằng việc đưa ra khái niệm: “Năng lượng tái tạo là năng lượng được khai thác từ nước, gió, ánh sáng mặt trời, địa 15 nhiệt, sóng biển, nhiên liệu sinh học và các nguồn tài nguyên năng lượng có khả năng tái tạo khác” [32, Điều 43, khoản 1]. Hiện nay, trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta chưa đưa ra khái niệm năng lượng sạch mà mang tính khái quát hóa hay xác nhận quan điểm chính thức của Chính phủ về vấn đề này. Trên thực tế, năng lượng sạch thường được hiểu rộng rãi và đơn giản nhất là các nguồn năng lượng ít hoặc không gây ảnh hưởng đến môi trường. Trên thực tế, khái niệm năng lượng sạch thường được sử dụng cho mục đích cụ thể nhất định, như để phân biệt với các nguồn năng lượng hóa thạch gây ảnh hưởng xấu hay đáng kể đến môi trường (như năng lượng từ than đá) hay khi đánh giá tác động của năng lượng đến môi trường.
Khái niệm “năng lượng xanh” cũng được đề cập trong các công trình nghiên cứu khoa học hay một số văn bản pháp luật nhất định, nhưng khái niệm “năng lượng xanh” vẫn chưa được định nghĩa rõ ràng, thống nhất và mang tính khái quát trong các văn bản pháp luật hiện nay. Năng lượng xanh thường được hiểu là các nguồn năng lượng mà việc sản xuất, sử dụng chúng thân thiện với môi trường, và cách hiểu này có phần tương tự như khái niệm “năng lượng sạch” đã thảo luận trên đây. Hiện nay, vẫn còn có những quan điểm khác nhau về việc liệu năng lượng xanh chỉ bao gồm các nguồn năng lượng tái tạo thân thiện với môi trường thôi hay còn bao gồm cả các nguồn năng lượng hóa thạch với công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường (ví dụ: công nghệ sản xuất than sạch, công nghệ sản xuất điện, năng lượng từ khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG), …). Do vậy, khái niệm năng lượng sạch và năng lượng xanh hẹp hơn hay rộng hơn khái niệm năng lượng tái tạo vẫn còn chưa hoàn toàn rõ ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật vì điều này còn phụ thuộc vào sự cải tiến và phát triển về công nghệ.
Các khái niệm “năng lượng sạch” và “năng lượng xanh” được hiểu là các nguồn năng lượng thân thiện với môi trường được sử dụng chủ yếu trong pháp luật về bảo vệ môi trường. Mặc dù vậy, từ phân tích nêu trên, tác giả cho rằng khái niệm “năng lượng tái tạo” là khái niệm có nội hàm, đặc điểm, tính chất rõ ràng hơn cả và dễ sử dụng 16 nhất cho mục đích xây dựng và hoàn thiện pháp luật về khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực này. Như đã đề cập trên đây, Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và các văn bản pháp luật cũng chủ yếu sử dụng khái niệm năng lượng tái tạo cho mục đích lập pháp. Khái niệm “năng lượng tái tạo” là khái niệm rõ ràng để phân biệt với các nguồn năng lượng từ nguyên – nhiên – vật liệu hóa thạch cho mục đích xây dựng hệ thống pháp luật liên quan.
Khái niệm “năng lượng tái tạo” được sử dụng trong pháp luật về đầu tư, pháp luật về năng lượng. Các nguồn năng lượng sạch, năng lượng xanh và năng lượng tái tạo Những nguồn NLX, NLS, NLTT chủ yếu hiện nay bao gồm: năng lượng từ sức gió, mặt trời, sinh khối, thủy triều, sức nước, sóng biển, địa nhiệt.