Chương 1: Tổng Quan Chương 2: Mô Hình mô phỏng kinh tế, kỹ thuật của hệ thống. Chương 3: Kết quả mô phỏng Chương 4: Kết Luận Chuong 1: TONG QUAN 1.1 Tình hình năng lượng tái tạo ở Việt Nam: Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nhiều tiềm năng đề phát triển năng lượng tái tạo. Việc khai thác các nguồn năng lượng tái tạo có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về kinh tế, xã hội, an ninh năng lượng và phát triển bền vững. Nhận thức được tiềm năng, vai trò của năng lượng tái tạo trong việc phát triển kinh tế cũng như bảo vệ môi trường, Chính phủ khăng định “Phát triển năng lượng tái tạo không chỉ tập trung mở rộng quy mô và tăng tỷ trọng nguồn năng lượng tái tạo trong tông cung cấp năng lượng sơ cấp, góp phần bảo dam an ninh năng lượng, mà còn giải quyết vấn đề cung cấp năng lượng cho khu vực nông thôn, góp phần thúc đầy phát triển sản xuất, xây dựng một xã hội sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài nguyên, thân thiện môi trường”, xem hình 1.1: Mô hình kết hợp khai thác điện gió và năng lượng mặt trời đã được triển khai ở Việt Nam Trong đó, mục tiêu đặt ra trong Quy hoạch điện VII là đưa tong cong suat nguồn điện gió từ mức 140 MW hiện nay lên khoảng §00 MW vào năm 2020, tương đương khoảng 0,8% tông công suất nguồn điện; phát triển điện sử dụng nguồn năng lượng sinh khối từ các nhà máy đường, chế biến lương thực, thực phẩm, chất thải rắn.
chiếm khoảng 1% tổng công suất nguồn điện vào năm 2020 và 1,2% vào năm 2025; Nâng tổng công suất nguồn điện mặt trời từ mức không đáng kê hiện nay lên khoảng S850 MW vào năm 2020; khoảng 4.000 MW vào năm 2025 và khoảng 12.000 MW vào năm 2030 với tỷ trọng tương ứng là 0,5%, 1,6% và 3,3% tổng công suất nguồn điện. Chính vì vậy, cần phải có những giải pháp mang tính đột phá đề biến tiềm năng, mục tiêu thành hiện thực [Š]. Tính đến cuối năm 2018, Việt Nam phát triển thành công nhiều dự án năng lượng tái tạo với 285 nhà máy thủy điện nhỏ, tổng công suất khoảng 3.322 MW; 08 nhà máy điện gió, tông công suất 243 MW và 10 nhà máy điện sinh khối, tổng công suất nối lưới khoảng 212 MW. Về điện mặt trời, hơn 100 dự án đã ký hợp đồng mua bán điện với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).
Có 9 nhà máy/trang trại điện gió đang vận hành với tổng công suất 304,6 MW, trong đó lớn nhất là trang trại điện gió Bạc Liêu với gần 100 MW, nhỏ nhất là nhà máy điện gió Phú Quý 6 MW nối lưới độc lập (không nối lưới điện quốc gia) trên đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận, còn lại là 7 nhà máy điện gió quy mô công suất nhỏ dưới 50 MW. Đồng thời có 18 đự án nhà máy/trang trại điện gió đã được khởi công và dang trong quá trình xây dựng với tổng công suất 812 MW, trong đó có 2 dự án có công suất từ 100 MW trở lên là Bạc Liêu 3 và Khai Long (Cà Mau), còn lại 16 dự án có quy mô công suất nhỏ từ 20 MW đến 65 MW. Các dự án rất quan trọng trong việc đóng góp vào tổng công suất và đồng thời có thể đóng vai trò nhân mạnh trong việc đáp ứng nhu cầu năng lượng, góp phần vào mục tiêu chung của quốc gia về sự bền vững và giảm thiểu tác động tiêu cực đối với môi trường. Ngoài ra, theo quy hoạch phát triển điện gió giai đoạn đến 2020, có xét đến năm 2030, tiềm năng công suất dự kiến hơn 22.000 MW, chỉ tiết của một số tỉnh như sau: Binh Thuan 1.570 MW, Ninh Thuan 1.429 MW, Ca Mau 5.894 MW, Tra Vinh 1.608 MW, Soc Trang 1.155 MW, Bac Liéu 2.507 MW, Bén Tre 1.520 MW, Quang Tri 6.
Tuy nhiên, từ tiềm năng đến hiện thực luôn có khoảng cách, nhưng khoảng cách về điện gió ở Việt Nam lại “quá xa” mà nguyên nhân đo có quá nhiều rào cản, khó khăn về pháp lý, kỹ thuật, tài chính, nhân lực và chủ đầu tư dự án. Về điện mặt trời: Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), tính đến giữa thăng 4/2019, toàn hệ thống điện chỉ có 4 nhà máy điện mặt trời với tông công suất chưa tới 150 MW. Chỉ trong vòng hơn 2 tháng, đến 30/6/2019 đã có trên 4.464 MW điện mặt trời đã hòa lưới, trong số đó có 72 nhà máy điện mặt trời thuộc quyền điều khiến của Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia (A0) với tổng công suất 4.189 MW và 10 nhà máy điện thuộc quyền điều khiển của các Trung tâm điều độ miền với tổng công suất 275 MW. Như vậy, nguồn điện mặt trời đã chiếm ty lé 8,28% cong suất đặt của hệ thống điện Việt Nam.
Dự kiến, từ nay đến cuối năm 2019, theo trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia (A0) sẽ tiếp tục đóng điện đưa vào vận hành thêm 13 nhà máy điện mặt trời, với tổng công suất 630 MW, nâng tổng số nhà máy điện mặt trời trong toàn hệ thống lên 95 nha may [6]. Tính đến cuối năm 2021, các nguồn năng lượng tái tạo có tổng công suất lắp đặt là 20.670 MW, chiếm 27% tổng công suất lắp đặt toàn hệ thống (76.620 MW), tổng sản lượng điện từ nguồn nang luong tai tao dat 31.508 ty kWh, chiếm 12,27% tông sản lượng điện toàn hệ thống. Cụ thê về điện gió, Việt Nam có 70 dự án với tổng công suất đạt 3.987 MW đã đưa vào vận hành thương mại, sản lượng điện sản xuất đạt 3,34 ty kWh trong nam 2021, tương đương 1,3 % sản lượng toàn hệ thống. Về điện mặt trời, sản lượng điện sản xuất từ năng lượng mặt trời chiếm khoảng 10,8% tổng sản lượng điện toàn hệ thống năm 2021.
Công suất điện mặt trời cả nước tăng nhanh từ 86 MW vào năm 2018 lên gần 16. Điện mặt trời áp mái cũng chiếm tý trọng đáng kế trong tổng công suất điện mặt trời tại Việt Nam. Trong những năm gan đây, các dự ăn năng lượng tái tạo ở Việt Nam đã thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và đầu tư tư nhân. Trong năm 2021, việc thu hút được nhiều đự án mới và quy mô lớn với 5,7 tỷ USD, chiếm 18.3% tổng vốn đầu tư đăng ký đã giúp ngành sản xuất và phân phối điện xếp thứ 2 trong số các ngành thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Hàng tỷ USD được rót vào các dự án điện mặt trời và điện gió cho thay Việt Nam có tiềm năng to lớn về năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện mặt trời và điện gió [7]. Đề phát triển năng lượng tái tạo, tháng 10 năm 2022 Bộ công thương ban hành thông tư số 15/2022/TT-BCT “Quy định phương pháp, trình tự xây dựng và ban hành khung giá phát điện cho các nhà máy điện mặt trời mặt đất, nhà máy điện mặt trời nối, nhà máy điện gió trong đất liền, nhà máy điện gió trên biến” [8]. Nghị quyết 140 Chính phủ ban hành mới đây về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 55 cua BO Chính trị đặt mục tiêu day tham vọng với tỷ lệ các nguồn năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng sơ cấp đạt khoảng 15-20% vào năm 2030; 25-30% vào năm 2045. Đồng thời Chính phủ đã có nhiều quyết định về cơ chế hỗ trợ giá FIT (là một cơ chế chính sách được đưa ra nhằm khuyến khích phát triển các nguồn năng lượng tải tạo, giá bản điện được tính toán đề nhà đầu tư thanh toán đủ chỉ phí đầu tư, có lãi vừa phải và giá này được giữ cố định trong 20 năm).
Ưu tiên khuyến khích phát triển điện gió và điện mặt trời phù hợp với khả năng đảm bảo an toàn hệ thông với giá thành điện năng hợp lý [9-10] Định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Thủ tường chính phủ đã có quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2- 23 phê duyệt Quy hoạch điện VIHI; trong đó phát triển mạnh các nguồn năng lượng tái tạo phục vụ sản xuất điện, đạt tỷ lệ khoảng 30,9 — 39,2 % vào năm 2030, định hường đến năm 2050 tỷ lệ năng lượng tái tạo lên đến 67,5-71,5% [11] Theo thống kê năng lượng tái tạo 2023, Cơ quan Năng lượng tái tạo quốc tế, Abu Dhabi, ISBN: 978-92-9260-537-7 [12], xem hình 1.2 18475 = 16661 166ói # Năng lượng mặt trời {AI (MW) #s Năng lượng gió (MW) 0a a a 4994 25344 3124 L1 Wy) § 419 | 275 | 138 | 105 2018 2019 2020 2021 2022 Hình 1.2: Biêu đồ công suất lắp đặt của năng lượng gió và mặt trời trong giai đoạn 2018 — 2022 Biểu đồ hình 1.2 cho thấy sự phát triển của năng lượng mặt trời và năng lượng gió tại Việt Nam từ năm 2018 đến năm 2022. - Về năng lượng mặt trời: Trong giai đoạn từ 2018 đến 2019, giai đoạn bùng nỗ phát triển năng lượng mặt trời. Năm 2020, có một sự tăng đột biến trong phát triển năng lượng mặt trời do sự ra đời của Quyết định số 13/2020 và cơ chế giá bán điện mới được ban hành bởi Thủ tướng Chính phủ, phát triển điện mặt trời trên mái. Năm 2021, không có sự tăng vọt nào vì hệ thống truyền tải bị tắc nghẽn và cơ sở hạ tầng không đủ để đáp ứng nhu cầu.
Đến năm 2022, công suất sản xuất điện mặt trời tang lén 18,475 MW, cho thay su phát triển đáng kể sau sự thay đổi trong chính sách và cải thiện cơ sở hạ tầng - Về Năng lượng gió: Từ năm 2018 đến 2020, sự phát triển của năng lượng gió cũng tăng chậm do chính sách hỗ trợ chưa đủ mạnh. Năm 2021 và 2022, có sự tăng trưởng trong phát triển năng lượng gió 1.2 Tổng quan về hệ thống lai. Hệ thống lai bao gồm 2 nguôn năng lượng tái tạo trở lên; nhiệm vụ của hệ thống lai nó bố sung hỗ trợ cho nhau trở thành nguôn năng lượng sạch, sản xuất gần như vô tận mà không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường. Hệ thống lai năng lượng mặt trời và gió là hai nguồn năng lượng tái tạo vô hạn và có thể sử đụng cho các mục đích công nghiệp, gia đình và công cộng.
Các hệ thống này đang được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới và đang được coi là một trong những giải pháp tốt nhất để giảm thiểu tùy thuộc vào nguồn năng lượng hoá thạch. Việt Nam có rất nhiều cơ hội để phát triển hệ thống năng lượng mặt trời và gió. Với môi trường ôn hòa và mưa vừa đủ, các tỉnh thành trong khu vực này có thê phát triển hệ thống năng lượng mặt trời với hiệu quả tốt nhất.