phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 03 chƣơng, chi tiết dƣới đây: Chƣơng 1: Khung pháp lý về tự chủ đại học: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm quốc tế. Thực trạng khung pháp lý về tự chủ đại học ở Việt Nam và thực tiễn tại ĐHQGHN. Quan điểm và đề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý về tự chủ đại học ở Việt Nam và ở ĐHQGHN. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 KHUNG PHÁP LÝ VỀ TỰ CHỦ ĐẠI HỌC NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 1.
Những vấn đề lý luận cơ bản về tự chủ đại học 1. Khái niệm tự chủ đại học Tự chủ theo từ điển Tiếng Việt (1997) là “tự điều hành, quản lý mọi công việc của mình, không bị ai chi phối” [45]. Nhƣ vậy, tự chủ là khả năng tự điều hành, quản lý công việc của một cá nhân hay một nhóm ngƣời trong tổ chức để đạt đƣợc hiệu quả trong công việc một cách cao nhất. Theo Hiệp hội quốc tế các trƣờng đại học (IAU) định nghĩa TCĐH nhƣ là mức độ độc lập cần thiết đối với các tác nhân can thiệp bên ngoài mà nhà trƣờng cần có để có thể thực hiện đƣợc việc quản trị và tổ chức nội bộ, việc phân bổ các nguồn lực tài chính trong phạm vi nhà trƣờng, việc tạo ra và sử dụng các nguồn tài chính ngoài ngân sách công, việc tuyển dụng nhân sự, việc xây dựng các tiêu chuẩn cho học tập và nghiên cứu, và cuối cùng, là quyền tự do trong việc tổ chức thực hiện nghiên cứu và giảng dạy [75].
TCĐH đƣợc quy định tại Khoản 1, Điều 32 của Luật GDĐH năm 2012 nhƣ sau: “Cơ sở GDĐH tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, KH&CN, HTQT, bảo đảm chất lƣợng GDĐH. Cơ sở GDĐH thực hiện quyền tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lƣợng giáo dục” [6]. Cũng tại Khoản 1, Điều 32 của Luật GDĐH năm 2018 nhƣ sau: “Cơ sở GDĐH thực hiện quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình theo quy định của pháp luật. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm quyền tự chủ của cơ sở GDĐH” [7].
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Còn theo tác giả Nguyễn Minh Thuyết TCĐH là quyền của cơ sở GDĐG quyết định sứ mạng và chƣơng trình hoạt động của mình, cách thức và phƣơng tiện thực hiện sứ mạng và chƣơng trình hoạt động đó, đồng thời tự chịu trách nhiệm trƣớc công chúng và pháp luật về mọi quyết định cũng nhƣ hoạt động của mình [62]. Trong diễn ngôn GDĐH của các nƣớc phƣơng Tây, tự chủ là một khái niệm vô cùng quan trọng và đƣợc xem nhƣ giá trị căn bản của một trƣờng đại học. Tuyên bố Magna Charta Universitatatum tại Bologna năm 1998 cũng tái khẳng định lại điều đó. Khái niệm TCĐH đƣợc đề cập từ cách đây 10 thế kỷ, thời kỳ bắt đầu hình thành các trƣờng đại học đầu tiên ở phƣơng Tây.
Từ đó khái niệm này đã trở thành đề tài tranh luận và nghiên cứu của rất nhiều học giả. Các quan điểm khác nhau diễn giả về vấn đề TCĐH vẫn có ít nhiều những sự khác biệt, nhƣng nhìn chung vẫn thống nhất ở một số điểm chính nhƣ sau: 1. Tự chủ là điều kiện tối cần thiết để một trƣờng đại học có thể tồn tại và hoàn thành sứ mạng đề ra; 2. Tự chủ là một khái niệm phức tạp, với nhiều khía cạnh khác nhau.
Nhƣng tối thiểu phải bảo gồm các khía cạnh sau: tự chủ về quản trị, tự chủ trong hoạt động chuyên môn (tự chủ học thuật) và tự chủ về tài chính. Tự chủ không phải là một tính trạng với hai trạng thái hoặc “có” hoặc “không”, mà là một đặc điểm mà mỗi trƣờng có thể đạt đƣợc ở nhiều mức độ khác nhau, từ hoàn toàn không tự chủ đến hoàn toàn tự chủ [69]. Nhƣ vậy, bản chất của cơ chế tự chủ là quá trình giảm thiểu sự hỗ trợ của nhà nƣớc, gia tăng tính chủ động, sáng tạo của cơ sở đào tạo công lập với mục tiêu huy động tối đa nguồn lực, giảm thiểu sự can thiệp của nhà nƣớc, gia tăng tính tự chủ, sáng tạo, mức độ dám nghĩ dám làm và tính tự chịu trách nhiệm của cơ sở đào tạo [45]. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Khái niệm quyền tự chủ đại học Theo Luật GDĐH năm 2018 thì quyền tự chủ là quyền của cơ sở GDĐH đƣợc tự xác định mục tiêu và lựa chọn cách thức thực hiện mục tiêu: tự quyết định và có trách nhiệm giải trình về hoạt hoạt động chuyên môn, học thuật, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản và hoạt động khác trên cơ sở quy định của pháp luật và năng lực của cơ sở GDĐH [7]. Nhƣ vậy quyền TCĐH là khả năng thực hiên các hoạt động tự chủ của cơ sở GDĐH theo quy định pháp luật, là quyền đƣợc Nhà nƣớc giao cho các nhà trƣờng trên cơ sở niềm tin rằng nếu đƣợc tự chủ thì nhà trƣờng sẽ thực hiện tốt hơn việc nâng cao chất lƣợng và hiệu quả đào tạo. Nội hàm quyền TCĐH đƣợc hiểu theo hai nghĩa là quyền tự chủ trong việc đƣa ra các quyết định độc lập giữa nhà trƣờng và cơ quan quản lí nhà nƣớc cấp trên và quyền tự chủ giữa nhà trƣờng với các cơ quan trực thuộc trƣờng. Quyền TCĐH có hai dạng thức, thứ nhất là quyền tự chủ hoàn toàn, là thẩm quyền đầy đủ của trƣờng đại học thực chất trong việc đƣa ra các quyết định và vận hành nhà trƣờng theo các chƣơng trình và các mục tiêu của nó; thƣ hai là ở mức độ thấp hơn là tự chủ thủ tục, là thẩm quyền của trƣờng đại học trong việc thực hiện các quyết định sẵn có nhƣng không có quyền đƣa ra các quyết định.
Quyền TCĐH cũng đƣợc hiểu là đó là các quyền có điều kiện, sự ràng buộc từ phía cơ quan quản lí nhà nƣớc, Theo đó các trƣờng đại học chỉ có quyền tự chủ khi đã đạt đƣợc các chuẩn mực quốc gia hoặc các chuẩn mực đã đƣợc xác định sẵn theo các chính sách công. Quyền TCĐH đƣợc xác lập gắn liền với vị trí, vai trò của trƣờng đại học, năng lực thực hiện quyền từ chủ, biết tự kiểm định chất lƣợng nhà trƣờng, tự chịu trách nhiệm và trách nhiệm giải trình của trƣờng đại học khi thực hiện quyền tự chủ của mình. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các nguyên tắc cơ bản của cơ chế tự chủ của các trường Đại học ở Việt Nam Thứ nhất, cơ chế tự chủ của các trƣờng đại học ở Việt Nam phải phù hợp với các quy định pháp luật, chính sách của nhà nƣớc và chiến lƣợc phát triển giáo dục đào tạo Việt Nam.
Thứ hai, cơ chế tự chủ của các trƣờng ĐHCL ở Việt Nam phải đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội phát triển bền vững khi thực hiện. Thứ ba, khi thực hiện cơ chế tự chủ phải đảm bảo sự tách biệt hợp lý giữa quyền của chủ sở hữu với quyền của ngƣời sử dụng các loại tài sản thuộc sở hữu nhà nƣớc. Thứ tư, thực hiện cơ chế tự chủ phải tuân thủ nguyên tắc: tự do hóa thƣơng mại và phù hợp với các thông lệ quốc tế. Thứ năm, tránh đơn giản hóa và phức tạp hóa việc thực hiện quyền tự chủ cho các trƣờng ĐHCL.
Nội dung của tự chủ đại học Theo Anderson & Johnson (1998) các thành tố trong TCĐH gồm: - Tự chủ nguồn nhân lực: Với quyền tự chủ này, trƣờng đƣợc quyền quyết định về các vấn đề liên quan đến điều kiện tuyển dụng, lƣơng bổng, sử dụng nguồn nhân lực, bổ nhiệm, miễn nhiệm các vị trí trong khu vực học thuật và khu vực hành chính. - Tự chủ trong các vấn đề liên quan đến tuyển sinh và quản lý sinh viên. - Tự chủ trong các hoạt động học thuật và chƣơng trình giáo dục nhƣ phƣơng pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên, nội dung chƣơng trình và giáo trình học liệu. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tự chủ trong các chuẩn mực học thuật, nhƣ các tiêu chuẩn của văn bằng, các vấn đề liên quan đến kiểm tra và kiểm định chất lƣợng.
- Tự chủ trong nghiên cứu và xuất bản, giảng dạy và hƣớng dẫn học viên cao học, các ƣu tiên trong nghiên cứu và quyền tự do xuất bản. - Tự chủ trong các vấn đề liên quan đến quản lý hành chính và tài chính, quản lý và sử dụng ngân sách, các nguồn tài chính của trƣờng [71]. Còn tại Liên Bang Nga, sự tự chủ đối với các cơ sở GDĐH liên quan tới sự phân quyền hóa và tƣ nhân hóa. Tính tự chủ đƣợc đề nghị theo kiểu: tự chủ hoàn toàn, hoặc tự chủ một phần trong vòng kiểm soát của chính quyền liên bang hoặc chính quyền bang.
Càng nhiều tính tự chủ cho các trƣờng đại học, các trƣờng đại học càng đƣợc phép thiết lập chính sách, các chƣơng trình và sử dụng tiền một cách hợp lý. Nhƣng với chính sách phân quyền hóa, các trƣờng đại học lại có thể sử dụng sự ƣu ái này đƣa ra các quyết định ảnh hƣởng tới chính sách chung về hệ thống GDĐH của cả nƣớc. Tính tự chủ của các trƣờng đại học đƣợc xem xét ở một số vấn đề sau: - Vai trò của hiệu trƣởng, ban điều hành, giám đốc viện nghiên cứu đƣợc tăng cƣờng đối với nhân viên thuộc quyền. - Bằng cấp và CTĐT.
- Tiêu chuẩn về quản lý và các CTĐT cũng nhƣ số lƣợng sinh viên cho mỗi lớp học. - Sự kết hợp giữa các khoa, trƣờng đại học với các nhà tuyển dụng với những điều kiện về học thuật và đảm bảo về công việc. - Sự sử dụng kinh phí, nguồn vốn, ngân quỹ hợp lý của tổ chức, cá nhân và các khoản chi khác… TCĐH cũng đƣợc các nƣớc Châu Á thực hiện theo xu hƣớng chuyển dịch dần từ mô hình Nhà nƣớc kiểm soát sang các mô hình có mức độ tự chủ cao hơn, từ Nhà nƣớc kiểm soát sang Nhà nƣớc giám. Điển hình nhƣ ở Nhật 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bản thông qua Đạo luật Hiệp hội ĐHQG năm 2003 trao quyền tự chủ về mặt pháp lý cho tất cả các trƣờng đại học với quyền lực nhiều hơn cho Giám đốc, Hiệu trƣởng và Ban quản trị trƣờng [67].
Còn ở Việt Nam, trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau thì quyền TCĐH cũng có những bƣớc phát triển đáng kể.