Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm và ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự 1. Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự 1. Khái niệm vụ án dân sự "Khởi kiện là hành vi đầu tiên của các cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự" [53, tr.
Khởi kiện trước hết là quyền dân sự của các chủ thể, là phương thức mà các chủ thể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền dân sự cho mình, cho nhà nước hoặc người khác và là cơ sở để Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết. "Việc xem xét, thụ lý yêu cầu khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức chính là sự bảo đảm của nhà nước đối với việc thực hiện các quyền dân sự của các chủ thể đã được pháp luật ghi nhận" [2, tr. Khi yêu cầu khởi kiê ̣n của cá nhân , cơ quan, tổ chức đáp ứng đầ y đủ các điều kiện về nội dung, về hình thức khởi kiện, tạm ứng án phí thì Tòa án thụ lý và vụ án dân sự đươ ̣c hin ̀ h thành. Do đó , khi nghiên cứu, xem xét khái niê ̣m khởi kiê ̣n vụ án dân sự thì phải đặt trong mối liên hệ với khái niệm vụ án dân sự.
Trước khi BLTTDS ra đời, theo quy định của PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT và PLTTGQCTCLĐ tồn tại ba khái niệm VADS, vụ án kinh tế, vụ án lao động. Theo đó vụ án kinh tế bao gồm các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh; các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật. Vụ án lao động bao gồm các tranh chấp lao động giữa cá nhân giữa người lao động 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và người sử dụng lao động về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác; về thực hiện hợp đồng lao động và trong quá trình học nghề; tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể người lao động và người sử dụng lao động về thực hiện thoả ước lao động tập thể; về quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn. VADS bao gồm những tranh chấp và những việc không có tranh chấp về dân sự và hôn nhân gia đình như: Tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc những tranh chấp khác; việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết.
Năm 2004, BLTTDS ra đời, khái niệm VADS đã có sự thay đổi. VADS bao gồm các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là VADS) thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án và có đương sự yêu cầu Toà án giải quyết. Theo BLTTDS khái niệm VADS được mở rộng hơn rất nhiều xét theo phạm vi loại việc, bởi ngoài những tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình còn bao gồm các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại và lao động. Tuy vậy, BLTTDS lại thu hẹp về nội dung loại việc bởi VADS chỉ bao gồm những loại việc có tranh chấp.
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng "Vụ là việc, sự việc không hay, rắc rối cần phải giải quyết" [56, tr. 1279]; "Dân sự (civil administration) thuộc việc của dân để phân biệt với việc của quan" [56, tr. Theo Đại từ điển Tiếng Việt "Án là vụ việc phải đưa ra xét xử ở Toà" [64, tr. "Dân sự là việc liên quan đến dân nói chung" [64, tr.
Những việc liên quan đến dân gồm những quan hệ nhân thân, tài sản, những vấn đề về hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động. Trong các mối quan hệ này khi các bên trong quan hệ có mâu thuẫn, rắc rối, không thống nhất được ý kiến với nhau về quyền và lợi ích được gọi là xảy ra tranh chấp. Tranh chấp là sự giành giật, mâu thuẫn, bất đồng ý kiến về quyền và lợi ích giữa các chủ thể. Như vậy có thể hiểu VADS là những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ liên quan đến dân và phải đưa ra 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xét xử ở Toà án.
Dưới góc độ pháp luật, vụ án dân sự là các tranh chấp giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được đưa ra Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật TTDS. Trong luận văn tác giả đề cập đến khái niệm VADS theo nghĩa này. Đặc trưng của VADS là có sự tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa hai bên hay nhiều bên đương sự trong mối quan hệ pháp luật. Trong quan hệ đó một bên có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình, yêu cầu bên kia phải thực hiện nghĩa vụ là làm một việc hoặc không được làm một việc.
Nghĩa vụ này phát sinh từ những quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, được pháp luật bảo vệ. Yếu tố tranh chấp được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu để xác định có là VADS hay không. Và đây cũng chính là yếu tổ để phân biệt giữa VADS và việc dân sự. "Trong vụ án dân sự ta có thể xác định được các bên là nguyên đơn (người có đơn khởi kiện); bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng trong việc dân sự vì không có tranh chấp nên chỉ xác định được bên yêu cầu còn bên kia có thể xác định hoặc không xác định" [52, tr.
Thời hiệu khởi kiện VADS là 2 năm trong khi thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là một năm và thời hạn chuẩn bị xét xử VADS dài hơn thời hạn giải quyết việc dân sự. Do thủ tục giải quyết VADS và thủ tục giải quyết việc dân sự có những khác nhau cơ bản nên khi nhận đơn khởi kiện Toà án phải xác định ngay đó là VADS hay việc dân sự để thụ lý giải quyết đúng thủ tục. Khái niệm quyền khởi kiện và khởi kiện vụ án dân sự Trong sự phát triển của xã hội, khi Nhà nước và pháp luật ra đời thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được ghi nhận bằng pháp luật của nhà nước và được bảo đảm thực hiện thông qua các thiết chế do Nhà nước thiết lập. Theo đó, quyền khởi kiện của tổ chức, cá nhân đã được pháp luật ghi nhận và chủ thể cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phạm có quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ở Việt Nam, Điều 50 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật" [18]. Trong đó, quyền dân sự có ý nghĩa rất quan trọng, cá nhân, tổ chức được thực hiện các hành vi theo quy định của pháp luật nhằm thoả mãn lợi ích của mình như lao động, sản xuất kinh doanh để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của bản thân và xã hội tham gia vào các giao dịch dân sự v. Điều 9 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 quy định, tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: Công nhận quyền dân sự của mình; buộc chấm dứt hành vi vi phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại.
Như vậy, quyền khởi kiện trước hết là một quyền dân sự. Khi quyền và lợi ích dân sự của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm phạm hay tranh chấp thì họ có quyền thực hiện những biện pháp mà pháp luật cho phép để bảo vệ và một trong những biện pháp đó chính là khởi kiện vụ án. Pháp luật TTDS quy định điều kiện, phương thức khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức và trong trường hợp này quyền khởi kiện VADS được xem xét như một quyền tố tụng. Do đó, dưới góc độ tố tụng quyền khởi kiện VADS là quyền tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật TTDS yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác khi có tranh chấp về quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
Để cụ thể quy định của Hiến pháp, Điều 4 và Điều 5 BLTTDS quy định, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện VADS tại Toà án có thẩm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác. Việc thực hiện quyền khởi kiện của đương sự phải tuân theo quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện, năng lực chủ thể, thẩm quyền của Toà án. Khi quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm chủ thể có quyền và lợi ích bị xâm phạm có quyền tự định đoạt khởi kiện hoặc không khởi kiện đến Toà án yêu cầu bảo vệ. Việc khởi kiện được thực hiện bằng hình thức nộp đơn khởi kiện tại Toà án có thẩm quyền.
Về nguyên tắc chỉ có cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có lợi ích bị xâm phạm mới có quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của mình. Bên cạnh đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong một số trường hợp đặc biệt Điều 162 BLTTDS nước ta quy định: Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật hôn nhân và gia đình quy định.