Chương 1: Cơ sở lí luận về kiểm tra đánh giá. Chương 2: Soạn thảo câu hỏi TNKQNLC chương “Các định luật cơ bản của dòng điện không đổi” trong chương trình vật lý đại cương và thực nghiệm sư phạm. Ngoài ra luận văn con có 5 phụ lục: Phụ luc |: Đáp án các câu hỏi của bài trắc nghiệm. Phụ lục 2: Bang phân tích tan số lựa chọn từng câu.
Phụ lục 3: Kết qủa phân tích bài trắc nghiệm. Phụ lục 4: Điểm từng câu và tổng điểm bài làm của SV. Phụ lục 5: Câu trả lời tương ứng với 40 câu hỏi trên bài làm của SV. Chie tiềm Âuởng dda: Chương Doh Fou Sink viên: Le Cháu Thao ‘Trang B.
CAC PHAN CHINH Chutomg 1: Co tô Le lun vé Kia tra dink24: 1/ Quan niệm về kiểm tra đánh giá: KT-ĐG được hiểu là sự theo dõi tác động của người kiểm tra đối với người học, nhằm thu được những thông tin cần thiết để đánh giá. Đánh giá có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp các thông tin thu được với một tập hợp các tiêu chí thích hợp với mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra quyết định theo một mục đích nào đó. Kiểm tra nhằm cung cấp những dữ kiện những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá, còn đánh giá là một quá trình hình thành những nhận định phán đoán về kết quả của công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã để ra, nhằm để xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc. Trong day học và trong giáo dục, KT-ĐG là một bộ phận hợp thành không thể thiếu của quá trình giáo dục, nó bao gồm các yếu tố: xác định mục tiêu giáo dục, soạn thảo và thực hiện chương trình, KT-DG là một chủ thể tạo thành một chu trình kín.
Có nhiều cách định nghĩa về đánh giá nhưng đều thống nhất rằng: “ Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và xử lí kịp thời, có hệ thống về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng của hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo *. Như vậy đánh giá là một quá trình, nó được thực hiện bởi hệ thống phương pháp và hình thức nhất định. Khi phân tích quá trình đánh giá người ta còn để cập đến khái niệm Đo - Lượng Giá ~ Đánh Giá. © Do: Theo nghĩa rộng là dùng phương tiện để thu thập dữ liệu về đặc tính, hành vi của con người một cách có hệ thống, là khái niệm dùng để chỉ sự so sánh một vật hay một hiện tượng với một thước đo hay một chuẩn mực, có khả năng trình bày kết quả về mặt định lượng.
Trong dạy học đó là việc giáo viên (GV) gắn lién các điểm số cho sản phẩm của học sinh (HS) thé hiện những kiến thức, kĩ năng kĩ xảo mà HS đạt được. Trong giáo dục phép đo có đặc tính là các phép đo chỉ thực hiện một cách gián tiếp qua hành động qua kết quả hoàn thành nhiệm vụ, các bài tập ; các phép đo bao gồm cả mặt định tính lẫn định lượng đồng thời các biến số cần đo luôn thay đổi 4. G Histo vitn Kưởng dan: Thương Dak Toa Sink vite: ft Than Theo ‘Trang và đôi khi khó kiểm soát. Tuy nhiên việc đo liên quan đến dung cụ có ba tính chất cơ bản sau: Độ giá trị : Đó là khả nang của dụng cụ do các giá trị thực của đại lượng cần đo ( cho phép đo được cái cần đo).
Ví dụ: một GV muốn đo mức độ ham học lịch sử của trẻ em và ra một bài trắc nghiệm về tên họ họ các vị vua kế tiếp nhau , năm tháng của các biến cố. Tính chất và giá trị của bài trắc nghiệm này không được hiển nhiên nhưng rõ ràng các câu hỏi vé năm tháng hay tên tuổi không giúp ta kiểm tra hay đánh giá mức độ ham học lịch sử của đứa trẻ. Vậy công việc cẩn làm trước khi soạn một bài trắc nghiệm là phải định xem chúng ta muốn đo gì, nghĩa là định mục tiêu rõ rằng và cụ thể. Độ trung thực (hay độ tin cậy) : Đó là khả năng luôn luôn cung cấp cùng một giá trị của cùng mội đại lượng đo với cùng dung cụ đó.
Trong phép đo lường trong giáo dục cũng như trong các ngành khoa học khác,sai số là một điểu không thể tránh khỏi mặc dù chúng ta cố thực hiện phép đo thật chính xác. Tuy nhiên người ta không thể viện lí do có sai số trong phép do lường mà tránh việc KT-ĐG. Độ nhạy: Là khả năng phân biệt hai đại lượng chỉ khác nhau rất ít. e Lượng giá: Là việc giải thích các thông tin thu được về kiến thức kĩ năng của HS, thấy được trình độ tương đối của một HS so với thành tích chung của tập thể HS (lượng giá theo tiêu chuẩn) ; hay so với yêu cầu của chương trình (lượng giá theo tiêu chí).
Lượng giá không nhất thiết dựa vào trắc nghiệm đo lường, điểm số hay xếp loại. ¢ Đánh giá là tiếp sau khâu lượng giá. là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán đoán thực chất về trình độ người học xét trong mối quan hệ với quyết định cần đưa ra theo mục đích đã định của KT-ĐG. Trong dạy học vật lý việc KT-ĐG phải hướng vào việc xác định trình độ kiến thức, kĩ năng vật lý cơ bản, sự phát triển trí tuệ và niềm tin của HS.
Việc KT-DG phải căn cứ vào mục đích, nội dung và phương pháp dạy học vật lý và trình độ HS ở từng giai đoạn của bài học vật lý, của chương và môn vật lý.Việc KT-ĐG giá phải căn cứ vào nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của từng nội dung vật lý để lựa chọn nội dung và hình thức KT-ĐG phù hợp. 2/ Chức năng của kiểm tra đánh giá: Tùy theo mục đích của KT-ĐG người ta có thể phân biệt các chức năng khác nhau của KT-ĐG. Theo GS Trần Bá Hoành thì KT-DG [Đánh giá trong giáo dục (dùng cho các trường Đại hoc sư phạm và Cao đẳng sư phạm). Bộ GD-ĐT, Hà Nội] gồm có ba chức năng sau: Chiao tiên husreg dẫu Chương Dink Ca Sink viên đh Cháu "Thee Trang 1/ Chức năng sư phạm: làm sáng tỏ thực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động dạy và học, 2/ Chức năng xã hội công khai kết quả học tập của HS.
3⁄ Chức năng khoa học: nhận định chính xác vé một mặt nào đó trong thực trạng dạy và học, về hiệu quả thực nghiệm một sáng kiến nào đó trong hoạt động dạy học. Trong luận văn nghiên cứu về để tài : " Xây dựng một số câu hỏi trắc nghiệm khách quan chương các định luật cơ bản của dòng điện không đổi trong chương trình Vật lý đại cương” Chủ yếu để cập đến chức năng sư phạm của KT-DG và khi nói đến chức năng sư phạm của kiểm tra đánh giá có thể nói đến ba chức năng chính sau; Chức năng chuẩn đoán ( đánh giá tiên nghiệm): Các bài kiểm tra được sử dụng như phương tiện thu lượm thông tin cẩn thiết xác định nội dung mục tiêu và phương pháp dạy học tiếp theo cho phù hợp. Đồng thời bổ khuyết những sai sót và cho phép để xuất các phương án mới trong hoạt động dạy học. Chức năng chỉ đạo định hướng trong hoạt động chương trình (Đánh giá quá trình) : các bài kiểm tra được sử dụng như phương tiện, phương pháp dạy học.
Đối với người dạy, căn cứ vào tiêu chí đánh giá mục tiêu đạy học cụ thể để để ra những câu hỏi kiểm tra có tác dụng như biện pháp tích cực để chỉ đạo hoạt động dạy học .Đối với người học, các câu hỏi được sử dụng như một biện pháp tích cực để chỉ đạo hoạt động học. có tác dụng định hướng hoạt động học tập tích cực tự chủ của người học. Chức năng xác nhận thành tích hoc tập, hiệu quả dạy học ( Đánh giá tổng kết): Các bài kiểm tra được sử dụng để đánh giá thành tích học tập, xác nhận trình độ và kiến thức kĩ năng của người học. Dựa vào đó có thể xếp loại, chọn lọc học viên, xét lên lớp.
3/ Khái quát về các phương pháp KT-ĐG trong giáo dục: 3.1 Các phương pháp đo lường và đánh giá trong GD hiện nay: Từ ngàn xưa con người đã thấy cần và biết đến những phương pháp thẩm định và đo lường. Trong cuộc sống hàng ngày, phép thẩm định và đo lường cũng được áp dụng mọi nơi. Và trong GD cũng vậy, nhà giáo can phân lọai HS và thẩm định mức độ học tập. Khi các phép đo lường ngày càng chính xác và thông dụng hơn, các kĩ thuật thẩm định trong giáo dục cũng hoàn thiện hơn.
Tuy nhiên đo lường hay trắc nghiệm cũng chỉ là phương tiện chứ không phải mục đích trong giáo dục. Khi đo lường một vật thể chúng ta muốn biết xem một số tính chất của vật này có phù hợp ge k2 “táo len husng dan: Chương Dak Tou Sink wien: Le "Wada Thao ‘Trang với mục đích chúng ta cin đến hay không. Trong giáo dục chúng ta thẩm định khả hay iém năng của HS để biết ưu nhược điểm của HS ấy khi mở mang kiến thức, kĩ xảo riêng, hay để xem học tập của đứa trẻ tiến bộ đến mức nào, mục tiêu hay chương trình đạt được đến đâu. Do thẩm định và đo lường đóng vai trò quan trọng nên nó sớm được nghiên cứu vào đầu thế kỉ 19, ngày nay trong phương pháp đo lường người ta chú trọng cả mặt định tính lẫn mặt định lượng.
Nhờ phương pháp định lượng phát triển nhiều tiến bộ quan trọng trong giáo dục và trong KHXH đã được thực hiện trong thế kỉ qua. Với những kĩ thuật đo lường và những bài trắc nghiệm thích ứng, chúng ta rút ra được những kết luận chính xác trong các nghiên cứu thực nghiệm về giáo dục và tâm lí. Các phương pháp để thẩm định và đo lường liên quan đến đánh giá trong giáo dục có thể chia thành hai loại: 1. phương pháp trắc nghiệm 2.
phương pháp quan sát hành vi có được trong hoạt động học tập. Mặc dù vậy trong việc kiểm tra đánh giá ở nhà trường phương pháp trắc nghiệm là phương pháp được sử dụng nhiều hơn cả.