Đặt vấn đề An Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có 2 mùa rõ rỆt: mùa mưa và mùa khô Khí hậu cơ bản thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 29. Đất đai màu mỡ vì 72% diện tích là đất phù sa hoặc có phù sa, địa hình bằng phẳng, thích nghỉ đối với nhiều loại cây trồng (Chỉ cục thống kê tỉnh An Giang, 2014). An Giang là một tỉnh có độ cao trung bình so với mực nước biển (Sở Tài Nguyên Và Môi Trường, 2012).
Do vậy hoạt động sản xuất còn gặp một số khó khăn trong việc giữ nước vào mùa khô, tại đây nhiều người dân đã bán đi lớp đất mặt làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng nhằm giải quyết việc mat nước vào mùa khô. Đồng thời cũng mang lại khoảng thu nhập lớn, việc khai này ít nhiều cũng ảnh hưởng đến độ phì nhiêu của đất và hoạt động canh tác lúa. Theo nhìn nhận của một số chuyên gia ngành nông nghiệp năm 2005, nếu lay một phần đất sâu 4 tất thì lớp phù sa trên mặt ruộng sẽ bị mat đi, đến vụ sản xuất năm sau, năng suất lúa sẽ giảm đáng kể. Theo thống kê của Sở TN-MT An Giang năm 2012, toàn tỉnh hiện có đến 1.640 lò gạch nung, tập trung chủ yếu ở các huyện Chợ Mới, Châu Phú, Châu Thành.
Châu Thành hoạt động sản xuất gạch diễn ra rất mạnh nên việc khai thác đất lúa để sản xuất là rất nhiều. Đặc biệt là ở xã Hòa Bình Thạnh huyện Châu Thành là nơi tập trung rất nhiều lò gạch nung và đây là nơi có điện tích dat trồng lúa lớn (có nhiều đất sét — nguyên liệu cho sản xuất gạch). Do vậy hoạt động khai thác lớp đất mặt cũng diễn ra rất nhiều tại đây và không đồng loạt nên tạo ra nhiều chênh lệch về mặt ruộng. Xuất hiện nhiều vấn đề về thoái hóa đất, sâu bệnh phát triển, ruộng ở cạnh nhau nhưng mảnh thì thiếu nước mảnh thì ngập úng.
Tình trạng lấy đất mặt để sản xuất gạch ngói sẽ gây thiệt hại lớn cho xã hội, đặc biệt là làm cạn kiệt độ phì nhiêu của đất. Ngoài ra, nó còn tác động xấu đến sản xuất nông nghiệp, nhất là đối với những hộ xung quanh. Bởi một hộ bán xong lớp đất mặt thì phần đất ruộng sẽ để lại một khoảng trũng. Khi lũ về, phù sa chủ yếu dồn về phan đất trũng.
Trong quá trình bơm nước vào ruộng, mạch nước từ ruộng lúa sẽ rút dần xuống khoảng ruộng này và gây ra thất mùa. Ngoài ra, khi thu hoạch, máy gặt đập sẽ khó có thê “bơi” qua phần ruộng của nông dân lân cận để cắt(Trần Anh Thư, 2012). Những van dé trên đã và đang tồn tại đã gây ra nhiều hệ lụy đến sản xuất lúa. Là vấn đề cần được quan tâm và nghiên cứu do đó đề tài “Tác động của khai thác tầng đất mặt đối với hoạt động sản xuất lúa tại xã Hòa Bình Thạnh huyện Châu Thành tỉnh An Giang” được thực hiện.
TOTES tT eer ne a 1. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Phân tích những tác động của việc khai thác tầng đất mặt đến hoạt động sản xuất lúa của người dân xã Hòa Bình Thạnh huyện Châu Thành. Nhằm tìm cách giảm nhẹ và were khắc phục các tác động tiêu cực ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất lúa.
Mục tiêu cu thé - Thực trạng khai thác tầng đất mặt tại xã Hòa Bình Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. - Phan tích nhting tac động của việc khai thác đến độ phì nhiêu của đất, sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng lúa do hoạt động khai thác tầng đất mặt. - Đề xuất một số giải pháp để khắc phục những tác động xấu để sản xuất có hiệu quả hơn. Câu hỏi nghiên cứu Hiện nay việc khai thác tầng đất mặt tại xã Hòa Bình Thạnh, Châu Thành, An Giang diễn ra như thế nào? - Người dân và chính quyền địa phương quan tâm đến việc khai thác tầng đất mặt như thế nào? - Những lợi ích và tác động xấu về độ phì của đất, năng suất lúa như thế nào? - Khai thác tầng đất mặt xong người dân có chuyên đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi hay không? - Những giải pháp nào giúp giải quyết những ảnh hưởng đối với hoạt động sản xuất lúa do khai thác tầng đất mặt tạo ra? 1.
Giới hạn nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng việc khai thác tầng đất mặt, sự quan tâm của chính quyền địa phương và người dân tại địa bàn, đồng thời phân tích những lợi ích và tác động x4u đến đất canh tác, năng suất, chất lượng lúa do hoạt động khai thác tầng đất mặt đối với hoạt động sản xuất lúa. Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn xã Hòa Bình Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Chương 2 Lược khảo tài liệu 2. Đặc điểm vùng nghiên cứu Châu Thanh là một trong 11 huyện, thị của tinh An Giang, nằm ở phía Tây sông Hậu, thuộc khu vực tứ giác Long Xuyên; có diện tích tự nhiên là 35.506 ha (trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 86,9%), dan số 176.782 người, với phần lớn người dân sống bằng nghề nông nghiệp, đời sống khó khăn, cơ sở vật chất còn thiếu thốn.
Trong những năm qua, kinh tế nông nghiệp của huyện đã có những chuyền biến tích cực, nhiều vùng đất trước đây chưa được khai thác, hoặc khai thác chưa có hiệu quả nay đã được sử dụng tương đối hiệu quả vào các lĩnh vực kinh tế khác nhau. BOOEOOVQQAA (AI 2y Hình 1: Bản đồ hành chính xã Hòa Bình Thạnh (Nguồn: Báo cáo tổng diện tích đất đai và các đơn vị hành chính xã Hòa Bình Thạnh huyện Châu Thành tỉnh An Giang, 2010) Xã Hòa Bình Thạnh huyện Châu Thành gồm 6 ấp: Hòa Thạnh, Hòa Thuận, Hòa Thành, Hòa Thịnh, Hòa Hưng, Hòa Tân. Xung quang lần lược giáp Thị tran An Châu, Thành phô Long Xuyên, xã Vĩnh Thành, xã Vĩnh Lợi, xã Cần Đăng, xã Bình Hòa. het ue MLA Tổng diện tích đất nông nghiệp của xã: 2731 ha (Thống kê năm 2010).
Bản đồ phân bố các khu vực khai thác tầng đất mặt.Tổng diện tích đất đã khai thác đất mặt là 910 A ha. Tong đó có 10 ha khai thác đất theo chương trình “Cải tạo đất gò cao”. ha khai thác tự ý (Thống kê năm 2010).Không có thay đổi trong những năm qua.1 Tình hình kinh tế xã Hòa Bình Thạnh huyện Châu Thành tỉnh An Giang 2. Sân xuất nông nghiệp - PTNT Bảng 1: Bảng thống kê tình hình kinh tế tại xã Hòa Bình Thạnh năm 2013 - 2014 THỤC NOI DUNG DVT HA HIEN 2013 2014 I.Tổng diện tích gieo trồng Ha 8.1 - Dién tich tréng lia Ha 8.485,9 + Lia giống Ha 241,6 425 + Lua chất lượng cao Ha 6.442,9 - Màu Ha 48,7 50,5 - Cỏ Ha 1,2 5,7 - Cải tao vườn tap Ha 2 2 - Diện tích nuôi thuỷ sản Ha 45,4 54,7 2.
Hé sé vong quay của đất lần 3 3 3. Áp dụng các tiến bộ KHKT - Chương trình "3 giảm 3 tăng" Ha 7.122 - Chương trình "1 phải 5 giảm" Ha 3. Doanh thu/ha dat (lúa). l> 69 99,56 _5, Thu nhập bình quân đầu người triệu đồng 21.
Tổng đàn gia súc Con 1.850 1485 - Trâu, Bò Con 478 535 - Heo Con 1372 950 7. Tổng đàn gia cầm Con 33.805 (Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội xã Hòa Bình Thạnh năm 2013-2014) 4 Kết quả thống kê cho thay tổng diện tích gieo trồng là 8.542,1 ha trên nămgiảm 10,2 ha so với năm 2013. Năng suất lúa bình quân cả 3 vụ là 6,4 tấn/hatăng 0,1 tắn/ha so với năm 2013 sản lượng ước đạt 53. Tình hình dịch bệnh trên cây lúa tiếp tục ổn định.Diện tích trồng nắm rom đạt được 4200m mô.Thu hoạch với sản lượng 680kg.
Diện tích lúa thu hoạch bằng máy là 8.485,9 hadiện tích gieo sạ. Toàn xã có 21 máy gặt đập liên hợp, 39 máy sấy.Diện tích sản xuất lúa giống là 425 ha, sản xuất lúa chất lượng cao 5.Chương trình “3 giảm 3 tăng” là 7.722 ha, “1 phải 5 giảm” là 3.698 haso với tông diện tích trồng lúa. Công tác phòng chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm đạt hiệu quả cao, không để xảy ra dịch bệnh. Tổng đàn gia cầm 35.Ké hoạch phát triển chăn nuôi bò của xã: Trong năm các ngân hàng đã giải ngân cho 12 hộ dân có nhu cầu vay von phát triển chăn nuôi bò theo kế hoạch với số tiền trên 330.
Tổng diện tích thủy sản là 54,7 ha, sản lượng ước đạt 919,3 tấn. Công tác khuyến nông, ứng dụng khoa học kỹ thuật và bảo vệ thực vật: Tổ chức 5 cuộc hội thảo sâu bệnh, 2 lớp tập huân nuôi thủy sản, có 125 lượt nông dân tham dự. Phát triển nông thôn : Giao thông: Thực hiện rải cát tuyến lộ phụ Trà Hát— Cả Nha 2.500m, kinh phí phí 25 triệu đồng, rai cát tuyến lộ Mương Trâu 2. 800m, kinh phí 18 triệu đồng, rải cát tuyến kênh 3 xã 2.000m, kinh phí 20 triệu đồng, tổng các nguồn kinh phí vận động từ nhân dân đóng góp.
Tình hình cầu treo trên địa bàn xã vẫn đảm bảo an toàn, phục vụ tot cho việc đi lại của người dân. Hoàn thành 2 công trình xây dựng câu (trường tiêu học A Hòa Bình Thạnh và trường tiêu học B Hòa Bình Thạnh), tổng kinh phí khoảng 600 triệu đồng do dự án tài trợ. Thủy lợi: Hoàn thành nạo vét các tuyến kênh như Hai Trò chiều dài 2.300m, Rạch Chanh chiêu dài 1.400m, Trà Hát- Kênh I chiều dài 2. Nao vét thông hào vùng 1000 ha, chiều dài 20km, vùng 320 ha, chiều dài 6km, vùng 595 ha, chiều đài 10km.
Phòng chống lục bão và tiềm kiếm cứu nạn: Khảo sát và đã tiến hành gia cố các hệ thông đê bao ở xung yêu trên địa bàn, đảm bảo phục vụ cho sản xuất vị Thu Đông năm 2014. Điện: Hệ thống lưới điện luôn được đơn vị khai thác quan tâm nâng cấp, đảm bảo cung cấp điện sử dụng ổn định cho người dân.184 hộ sử dụng điện thường xuyên và an toàn, đạt 97,11% tổng số dan. Tiểu thú công nghiệp - Thương mai, dich vu: Tiểu thủ công nghiệp: Trên địa bàn xã, chỉ còn 50 cơ sở gạch ngói đang hoạt động (69 cơ sở gạch ngói đã ngừng hoạt động do ảnh hưởng từ sức mua giảm, giá nguyên liệu nung ở mức cao). Các cơ sở sản xuất kinh doanh khác như xay xát sản xuất rượu, làm bún.
vẫn hoạt động én định. Tuy nhiên tình trạng các cơ sở sản xuất gạch 5 ngừng hoạt động nhiều làm ảnh hưởng đến việc giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương.