Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần Bia Hà Nội – Nam Định. Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng tại Công ty cổ phần Bia Hà Nội – Nam Định. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 1.
Khái niệm và đặc điểm quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động 1. Khái niệm quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Trước khi tìm hiểu khái niệm về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ), chúng ta cần phải hiểu rõ về HĐLĐ. HĐLĐ là cốt lõi của pháp luật lao động Việt Nam, là chế định quan trọng nhất của Bộ luật Lao động (BLLĐ) bởi nó trực tiếp điều chỉnh quan hệ lao động – mối quan hệ chủ yếu thuộc phạm vi điều chỉnh của BLLĐ. HĐLĐ chính là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của quan hệ lao động.
BLLĐ 2019 định nghĩa: “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” (Điều 13). Như vậy, HĐLĐ là sự thỏa thuận giữa chủ thể người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ) trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, trong đó, NLĐ có nhu cầu về việc làm còn NSDLĐ có nhu cầu thuê mướn NLĐ để mua sức lao động và NLĐ sẽ làm việc dưới sự quản lý của NSDLĐ để được trả lương, thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng thỏa thuận. Hiểu theo cách đơn giản nhất, “quyền” là những điều mà mình được làm. Theo Từ điển Tiếng Việt, “quyền” có nghĩa “là điều mà xã hội và pháp luật công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi” [20].
Theo Từ điển Luật học: “ Quyền là khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai ngăn cản, hạn chế” [19]. “Đơn phương” theo từ điển Tiếng Việt được hiểu là “riêng một bên, hoàn toàn không có sự thỏa thuận hoặc sự tham gia của bên kia” [20]. Như vậy, có thể hiểu quyền đơn phương là khả năng thực hiện ý chí đã được xã hội, pháp luật công nhận của riêng một bên, hoàn toàn không có sự thỏa thuận hoặc sự tham gia của bên kia. Nguyễn Hữu Chí định nghĩa: “Đơn phương chấm dứt HĐLĐ là biện pháp mà các bên có thể sử dụng khi những cam kết trong HĐLĐ không được thực hiện đúng, đầy đủ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật lao động” [7, tr.
Nguyễn Thị Hoa Tâm: “Đơn phương chấm dứt HĐLĐ là hành vi pháp lý của một chủ thể trong quan hệ HĐLĐ có thể dẫn đến việc chấm dứt hiệu lực pháp lý của HĐLĐ trước thời hạn theo quy định của pháp luật mà không phụ thuộc vào ý chí của bên kia” [15, tr. Từ những nội dung đề cập ở trên, có thể đưa ra khái niệm quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ như sau: Quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ là khả năng một bên 7 trong quan hệ lao động bằng ý chí của mình quyết định chấm dứt hiệu lực pháp lý của HĐLĐ trước thời hạn theo quy định của pháp luật mà không phụ thuộc vào ý chí của bên kia, nhằm giải phóng các bên khỏi các thỏa thuận trước đó trong hợp đồng. Đặc điểm quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Bản chất HĐLĐ là một hợp đồng song vụ, các quyền và nghĩa vụ của NLĐ và NSDLĐ gắn liền và đi đôi với nhau. Sau khi HĐLĐ được ký kết, quyền và nghĩa vụ của NLĐ và NSDLĐ sẽ bị ràng buộc với nhau nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng, không phải lúc nào các bên cũng tuân thủ các cam kết trước đó dẫn đến quyền và lợi ích của các bên không được đảm bảo.
Trong trường hợp đó, các bên trong quan hệ lao động có thể bảo vệ quyền lợi của mình thông qua thực hiện quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Pháp luật cho phép các chủ thể tham gia quan hệ lao động được quyền tự giải phóng khỏi các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận trong HĐLĐ nhưng để thực hiện quyền này, các bên phải tuân thủ các quy định của pháp luật, bị giới hạn trong phạm vi, khuôn khổ pháp luật cho phép để giải quyết một cách hài hòa quyền lợi của NSDLĐ cũng như quyền lợi của NLĐ. Có thể khái quát một số đặc điểm của quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ như sau: Thứ nhất, quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ chỉ được thực hiện khi HĐLĐ còn thời hạn và việc thực hiện sẽ dẫn đến việc HĐLĐ chấm dứt hiệu lực trước thời hạn. Trong HĐLĐ, các bên sẽ thỏa thuận về thời gian làm việc, thời hạn có hiệu lực của hợp đồng.
Khi thời hạn hợp đồng kết thúc, hiệu lực của hợp đồng sẽ không còn, tức là quyền và nghĩa vụ của các bên trong HĐLĐ sẽ không còn ràng buộc với nhau. Lúc này, các chủ thể đã được giải phóng khỏi quyền và lợi ích đã thỏa thuận trong HĐLĐ. Vì vậy, các bên không thể thực hiện quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi đã hết thời hạn có hiệu lực pháp lý của hợp đồng. Tức là, các bên trong quan hệ lao động chỉ có thể thực hiện quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi HĐLĐ ký kết vẫn còn thời hạn và khi một bên thực hiện quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ thì họ đã tự giải phóng mình khỏi các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Khi không còn ràng buộc về quyền và nghĩa vụ, hiệu lực pháp lý của HĐLĐ sẽ chấm dứt trước thời hạn. Thứ hai, cả NLĐ và NSDLĐ đều có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà không phụ thuộc vào ý chí của bên chủ thể kia trong HĐLĐ. Trong quá trình thực hiện HĐLĐ, NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận trong HĐLĐ trước thời hạn với NSDLĐ khi có căn cứ theo quy định của pháp luật. Việc chấm dứt này hoàn toàn do NLĐ quyết định, do ý chí đơn phương của NLĐ mà không cần phải phụ thuộc vào ý chí của NSDLĐ, NSDLĐ có đồng ý hay không thì cũng không ảnh hưởng đến quyết 8 định của NLĐ.
Tương tự thì NSDLĐ cũng có quyền đơn phương này và việc thực hiện quyền này sẽ theo căn cứ mà pháp luật quy định và NLĐ không thể can thiệp vào quyết định của NSDLĐ. Ta có thấy rằng, đặc điểm này của quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ đã thể hiện điểm khác biệt của quan hệ lao động so với quan hệ dân sự. Khoản 1 Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng như sau: “Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”, tức là một bên trong quan hệ dân sự chỉ được đơn phương chấm dứt hợp đồng khi có căn cứ là sự vi phạm nghĩa vụ đã được thỏa thuận. Trong khi đó, các bên trong HĐLĐ có thể thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng ngày cả khi bên kia không có vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Như vậy, có sự khác biệt rõ ràng giữa hợp đồng lao đồng và hợp đồng dân sự về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Thứ ba, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là quyền được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ là cơ chế, quyền năng pháp lý được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, giúp NSDLĐ thực hiện quyền tự do của mình trong công tác tuyển dụng, sử dụng nguồn lao động thích hợp, đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh của mình, bảo vệ lợi ích của NSDLĐ khi quyền lợi bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại. Chẳng hạn, khi NLĐ không thực hiện đúng nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ.
Không chỉ dành riêng cho NSDLĐ, quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ còn là công cụ để NLĐ thực hiện quyền tự do việc làm của mình, bảo vệ quyền lợi của mình trong quan hệ lao động khi họ không thể tiếp tục thực hiện HĐLĐ. Ví dụ, trong trường hợp không thể tiếp tục thực hiện HĐLĐ vì một lý do nào đó, NLĐ có thể chấm dứt HĐLĐ mà không cần có sự đồng ý của NSDLĐ. Khi thực hiện quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ, bên còn lại không thực hiện đúng nghĩa vụ hoặc có hành vi cản trở việc thực hiện quyền thì bên thực hiện quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ, có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Thứ tư, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là quyền có điều kiện và chỉ được thực hiện khi có đủ điều kiện theo quy định pháp luật.
Để hạn chế tối đa tình trạng lạm dụng quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ, pháp luật quy định giới hạn đối với quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của các chủ thể tham gia quan hệ lao động. Giới hạn này đối với mỗi chủ thể lại được quy định khác nhau bởi vì trong quan hệ lao động NSDLĐ luôn là bên có vị thế cao hơn, có quyền 9 quản lý, giám sát, quyết định công việc cho NLĐ, còn NLĐ lại là bên chịu sự quản lý, giám sát, sắp xếp của NLĐ, vị thế có phần thấp hơn so với NSDLĐ. Trên thực tế, mọi hệ thống pháp luật nhân đạo đều phải ưu tiên bảo vệ kẻ yếu và pháp luật lao động Việt Nam cũng không ngoại lệ. Do đó, pháp luật lao động có xu hướng bảo vệ NLĐ nhiều hơn, các quy định về quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ có phần “nới lỏng” so với quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ.
Tuy nhiên, việc NLĐ hay NSDLĐ thực hiện quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ đều sẽ tạo ra những hệ quả pháp lý và dễ phát sinh ra tranh chấp.