Chương I TÍN NGƯỠNG ĐÂN GIAN VÀ ĐẶC TRƯNG TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VIỆT NAM I. Khái quát về tín ngưỡng dân gian 26 tất nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu khi bàn về khái niệm “tin ngưỡng dan gian”, ở đây người viết xin trích dẫn ý kiến của Nguyễn Dang Duy. “Tin ngưỡng là một cách từ thực tế cuộc sống cộng đồng con người ý thức về một dang thin lính nào đó, rồi công đồng con người đó tin theo tôn thờ lễ bái, cầu mong cho hiện thực cuộc sống, gây thành một nếp sống xã hội theo niém tin thiêng liêng dy”. Tuy nhiên cũng cẩn phân biệt "ý thức về một dang than linh nào đó " không có nghĩa tín ngưỡng là tôn giáo, điều mà người ta ghi nhận ở tín ngưỡng dân gian đó chính là nét ngây thơ của đức tin và niềm tin, Người ta tin vào những thế lực siêu nhiên bằng một niềm tin tuyệt đối và cả tình yêu thương, họ sùng bái nhưng cũng gần gũi với thần linh.
Đặc biệt ở tín ngưỡng không có sự * giác ngộ " như tôn giáo, ý thức tín ngưỡng đã có trong mỗi con người từ khi họ sinh ra, có mat trong cộng đồng. Chúng ta có thể phân biệt được tín ngưỡng dân gian đựa vào những đặc trưng sau: "+ Chưa có hệ thống giáo lí mà chỉ mới có các huyền thoại, than tích, truyền thuyết + Chưa thành hệ thống thân điện , còn mang tính chất đa thin + Còn hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người. chưa mang tính cứu thé + Gắn với cá nhân và công đồng làng x4, chưa thành giáo hội + Nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán và chưa thành quy ước chat chế Trang 9 Tín ngưỡng dân gian và quan niệm của Nguyễn Du trong Truyện Kiểu TS + Mang tính chất dân gian, sinh hoạt của din gian với đời sống nông dan,” ®! Như vậy tín ngưỡng không phải là tôn giáo vì tín ngưỡng không hể có giáo chủ. giáo lí, giáo hội và các đình miếu không phải là giáo đường, không phải là nơi giảng kinh truyền đạo mà chỉ là nơi diễn ra thờ tự, lễ hội.
Nhất là về mục đích của tín ngưỡng dân gian thì khác hẳn tôn giáo, niém tin của nó không hướng tới cứu cánh cho cái chết. Người ta tín ngưỡng trước hết bởi vì lòng yêu cuộc sống, muốn sống bình yên trong cuộc đời nhiều khó khăn và khắc nghiệt này chứ không phải vì muốn chuẩn bị cho cuộc sống ở thế giới bên kia. Khi bàn đến khái niệm “tin ngưỡng dân gian” cũng cẩn làm rõ những ý kiến không đồng tình, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng không nên phân biệt tín ngưỡng dân gian với tín ngưỡng quý tộc bởi đã là tín ngưỡng tức là niểm tin về tâm linh và không có sự phân biệt giai cấp trong tín ngưỡng. Dd là tầng lớp nào đi nữa thì cũng đều đi chùa, đều thấp hương.
đều thờ cúng tổ tiên với một niềm tin như nhau; có khác chăng là sự trang trọng và hình thức nghỉ lễ bởi giai cấp quý tộc có điều kiện để tổ chức lễ bái trang trọng và phức tạp hơn tầng lớp bình dân vv. Ý kiến trên không phải là không có lý nhưng cũng phải thừa nhận rằng cùng một loại tín ngưỡng nhưng quan niệm của mỗi tang lớp khác nhau là khác nhau do bị sự chi phối của môi trường xã hội mà tang lớp xuất thân. Chính vì thế mà niém tin trong tín ngưỡng của người bình dân so với tầng lớp phong kiến thì thường chân thành, đơn giản, mộc mạc hơn và vì cuộc sống của họ khó khăn hơn bởi ngoài những khó khăn vé điều kiện tư nhiên họ còn phải gánh chịu những áp bức mà giai cấp thống trị mang lại nên tín ngưỡng đối với họ còn là niém an ủi, là sự chở che để hy vọng, để lại tự vượt qua gian khổ mà tiếp tục sống. Nếu xét về đặc điểm giai cấp mà nói thì giai cấp thống trị hay tang lớp trí thức.
quý tộc có lẽ không phải hứng chịu những nỗi đau bị áp bức như tang lớp bình dân thấp cổ bé họng. Lịch sử văn học và lịch sử Việt Nam cũng đã từng làm rõ diéu này. Chính vì thế giai cấp thống trị làm sao thấu hiểu niềm tin vào công lý, khát khao công lý của người bình dân. Do đó cái quy luật nhân quả "ở hiển gặp lành”, Trang 10 Tín ngưỡng dân gian và quan niệm của Nguyễn Du trong Truyện Kiểu cái giấc mơ công lý kẻ ác sẽ bị trừng trị và người ở hiển sẽ được sung sướng luôn là niềm tin mãnh liệt và là ước mơ cháy bỏng của ting lớp bị trị = đại đa số người bình dân.
Hay vi dụ như đối với các loại tôn giáo du nhập vào Việt Nam, với những người đân bình thường họ tiếp nhận bằng cái nhìn của chính họ và tin bằng niềm tin tự nhiên không sùng bái. Với ho đó là đức tin, một dang tín ngưỡng chứ không phải là tôn giáo. Điều này lý giải tại sao cũng là Nho giáo nhưng với tầng lớp quý tộc được tiếp nhận khác và với tầng lớp bình dân lại được tiếp nhận khác. Sự khác nhau về giai cấp dẫn đến những quan niệm, cách nhìn khác khác nhau dù rằng cùng một dạng tín ngưỡng như nhau.
Vì lẻ đó mà người viết nhấn mạnh yếu tố "dân gian” trong tín ngưỡng. Điều này rất quan trọng bởi bài viết đang khảo sát sự chỉ phối của tín ngưỡng dân gian trong quan niệm của một nhà Nho phong kiến- một người đã không nhìn bằng cái nhìn của giai cấp mình mà cảm nhận theo cách của dân gian và tạo ra một tác phẩm được chính tang lớp này đồng cảm, trân trọng.Đ i n gian Việt N (2ãng là niềm tin, cũng là sự sùng bái các lực lượng siêu nhiên nhưng so với tín ngưỡng dân gian nói chung thì tín ngưỡng dân gian Việt Nam có những đặc trưng riêng được quy định bởi điều kiện tự nhiên, diéu kiện lịch sử, tâm lí, thói quen, tính cách của người Việt. Nguồn gốc, đặc điểm thờ, vật tín ngưỡng Do đặc điểm của nền văn minh lúa nước nên người Việt từ xưa đã gắn liền với đời sống nông nghiệp và văn hoá tín ngưỡng của người Việt cũng bat nguồn từ đây. Sống trong diéu kiện địa lí sinh thái đẩy khắc nghiệt, khí hậu thời tiết thay đổi thất thường, khi thì hạn hán, khi thì lũ lụt.
Dẫu đã làm lung vất vả “bán mặt cho dat, bán lưng cho trời” nhưng người nông dan vẫn không thể biết chắc kết quả sẽ gat hái được, tất cả phải mong chờ trong lo âu, phấp phỏng, phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện Trang 11 Tín ngưỡng đân gian và quan niệm của Nguyễn Du trong Truyện Kiểu tự nhiên. Với trình độ hiểu biết và khả năng của người thời trước, nhất là người nông dân chân chất thì không thể nói đến việc “thay đổi trời đất, sip xếp lại giang sơn” được, cho nên thái độ của họ trước thiên nhiên cơ bản là thụ động: Lạy trời mưa xuống Lấy nước tôi uống Lấy ruộng tôi cày Hay: Ơn trời mưa nắng phải thì. Trông trời trông đất trông mây Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm Trông cho chân cứng đá mềm Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng Do vậy người Việt không đi theo hướng nhận thức để đối phó với tự nhiên, chế ngự, làm chủ nó mà họ tìm cách thích nghi với tự nhiên, hài hoà tôn trọng tự nhiên. Chính thái độ tôn trọng cùng với nỗi lo lắng sợ hãi trước những cơn thịnh nộ của thiên nhiên đã dẫn đến tín ngưỡng sùng bái các vị thần tự nhiên như thin Nông, Đất, Nước ~ những yếu tố gắn lién với văn minh nông nghiệp.
Đất và Nước là những điều kiện quan trọng hàng đầu cho việc sinh sản của cây lúa mà cây lúa thì sản sinh ra nhiều thóc gạo nuôi sống con người. Đất, Nước và cây lúa được người xưa coi như là thin linh. Vì gắn với sinh sản nên các vị thần ấy thường là nữ thần, cái đích mà người Việt hướng tới là sự phén thực nên các nữ thắn không phải là các cô gái mà là các Bà Mẹ, các Mẫu. Người Me là tượng trưng cho sự bao dung, yêu thương.
cho sự ban phát và người mẹ là người có quyền lực nhất khi xã hội còn chế độ mẫu hệ nên tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng quan trọng trong đời sống tam linh người Việt. Những nhân vật thường được nhắc tới là Bà Trời. Bà Đất, Bà Nước = ba nữ than cai quản ba hiện tượng quan trong nhất, thiết thân nhất đối với cuộc sống của người làm nông nghiệp. Trong dân gian 3 nữ than này còn được thờ chung như một bộ tam tài dưới dang tin ngưỡng TAM PHỦ: Mẫu Thượng Thiên (Bà Trời).
Mẫu Thượng Ngàn (Bà Đất), Mẫu Thoải (4m đọc chệch đi từ chữ Thủy, Bà Nước). Trang !2 Tín ngưỡng đân gian và quan niệm của Nguyễn Du trong Truyện Kiểu Người Việt xuất phát từ nhân thức “van vật hữu linh" để bắt đầu bận tâm về mối quan hệ giữa thế giới hữu hình và vô hình, nhất là giữa cái sống và cái chết. Họ tin rằng mỗi con người đều có phan hồn và xác. trong nhân thức dân gian, thể xác và linh hén của con người vừa gắn bó vừa tách biệt.
Khi con người chết đi, xác hòa vào cát bụi nhưng phan hồn vẫn tổn tại ở một thế giới khác và liên hệ với người sống bằng hiện tượng "âm phd” - người sống cầu xin người chết che chở, phù trợ cho sự bình yên của cuộc sống hằng ngày. Không biết sự cầu xin ấy có hiệu quả như thế nào nhưng trước hết con người thấy thanh thản về mặt tâm linh, điểm tựa tỉnh thần quan trọng cho cuộc sống. Người chết cần có sự cúng lễ của người sống để có thể yên ổn ở thế giới bên kia, không thành ma đói lang thang, còn người sống chỉ thể an bình, thanh thản khi được sự che chở, phù trợ một cách bí ẩn của người chết. Với mong ước bình di và niềm tin chất phác, thờ tổ tiên được coi là thứ tín ngưỡng vừa tắm với mọi lớp người.
Ở đây việc ứng xử với quá khứ, với những người đã khuất không phải chủ yếu là vì họ, cho họ mà là vì những người đang sống, chính vì thế mà tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tổn tại vững chắc trong không gian và thời gian. Lí do chủ yếu cho việc hình thành và tổn tại tín ngưỡng đó là lòng yêu nước và tự tôn dan tộc đã trở thành một đặc trưng sâu đậm của tâm thức dân gian người Việt.