Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Thành ngữ trong thơ Nguyễn Đình Chiểu" do sinh viên Nguyễn Thị Hạnh thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Bùi Mạnh Hùng tại Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (tháng 05/2005). Đề tài thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học tiếng Việt / Văn học dân gian và Phong cách học ngôn ngữ nghệ thuật.

Lý do lựa chọn đề tài xuất phát từ vị trí của thành ngữ trong vốn từ vựng dân tộc và thực tiễn vận dụng thể loại này vào sáng tác văn chương. Trong lịch sử tiếp nhận văn học, ngôn ngữ thơ Nguyễn Đình Chiểu từng có những ý kiến đánh giá trái chiều; một số quan điểm cho rằng thơ ông thiếu sự trau chuốt, gọt giũa do mang đậm tính chất nôm na, bình dị. Tác giả khóa luận đặt vấn đề khảo sát hệ thống thành ngữ nhằm làm rõ giá trị thẩm mỹ, cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ mang phong cách bình dân, mộc mạc và gắn liền với đời sống nhân dân Nam Bộ trong sáng tác của nhà thơ.

Lịch sử nghiên cứu về ngôn ngữ và thành ngữ của Nguyễn Đình Chiểu được khóa luận tổng hợp qua 6 công trình tiêu biểu (in trong Kỷ yếu hội nghị khoa học về Nguyễn Đình Chiểu, Viện Khoa học Xã hội tại TP. Hồ Chí Minh và Bến Tre xuất bản năm 1984):

  1. Hồng Dân (Nguyễn Đình Chiểu, cái mốc lớn trên tiến trình tiếng Việt Văn học): So sánh ngôn từ Nguyễn Đình Chiểu với Truyện Kiều, Cung oán ngâm khúc và truyện Nôm khuyết danh; chỉ ra sự hiện diện của từ ngữ phương ngôn, tục ngữ, thành ngữ Nam Bộ.
  2. Ngô Thúy Nga, Trần Thị Minh Phương, Phan Minh Thúy (Tính bình dị của ngôn ngữ Nguyễn Đình Chiểu trong tác phẩm Lục Vân Tiên): Thống kê trong Lục Vân Tiên có 76 lần dùng thành ngữ, 8 lần quán ngữ và 7 lần so sánh ví von từ ca dao.
  3. Nguyễn Thạch Giang (Mấy nhận xét tổng quát về ngôn ngữ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu): Nêu nhận xét khái quát về vốn thành ngữ rút từ lời ăn tiếng nói nhân dân.
  4. Nguyễn Xuân Sơn (Khảo sát việc vận dụng thành ngữ, tục ngữ trong Lục Vân Tiên): Thống kê 88 thành ngữ, tục ngữ và phân tích 2 cách thức sử dụng: nguyên dạng và biến hóa sáng tạo.
  5. Trần Thị Ngọc Lang (Thử tìm hiểu phong cách ngôn ngữ Nguyễn Đình Chiểu): Nhận xét về việc đưa thành ngữ, ca dao vào tác phẩm một cách tự nhiên.
  6. Trịnh Sâm (Góp phần tìm hiểu ngôn ngữ truyện Lục Vân Tiên): Thống kê 106 thành ngữ, tục ngữ, đặc biệt chú ý đến cách dùng thành ngữ dưới dạng "tiềm ẩn".

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là cung cấp cái nhìn hệ thống, toàn diện về đặc điểm thành ngữ và các phương thức vận dụng thành ngữ của Nguyễn Đình Chiểu trong các truyện thơ.

Đối tượng và phạm vi khảo sát bao gồm hệ thống thành ngữ trong 3 tác phẩm truyện thơ Nôm: Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu, và Ngư tiều y thuật vấn đáp. Cứ liệu văn bản được trích xuất từ bộ sách Nguyễn Đình Chiểu toàn tập (Tập I và II), Nhà xuất bản Văn học, 1997.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các công trình nghiên cứu ngôn ngữ học tiếng Việt về ngữ cố định:

  • Khái niệm thành ngữ: Tác giả điểm lại định nghĩa của Hồ Lê (về cấu tạo từ tiếng Việt), Nguyễn Văn Mệnh (đơn vị ngôn ngữ có sẵn, miêu tả hình ảnh/hiện tượng/tính cách/trạng thái), Hoàng Văn Hành (tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh và bóng bẩy về ý nghĩa), Nguyễn Văn Tu (1976) và Đỗ Hữu Châu (1981) (nghiên cứu góc độ ngữ nghĩa của cụm từ cố định), Vũ Ngọc Phan (2003) (thành ngữ là bộ phận của câu). Khóa luận tổng hợp định nghĩa thành ngữ trên 3 phương diện: cấu trúc (tổ hợp từ cố định về hình thức), chức năng (tương đương với một từ), và ý nghĩa (mang tính biểu trưng, không phải phép cộng giản đơn nghĩa của các thành tố).
  • Đặc điểm hình thức của thành ngữ tiếng Việt:
    • Tính cố định: Chi phối ngữ âm (phối hợp thanh điệu với 4 mô hình cơ bản ở thành ngữ 4 âm tiết: Bằng bằng trắc trắc, Trắc trắc bằng bằng, Trắc bằng bằng trắc, Bằng trắc trắc bằng; vần lưng), từ vựng (hạn chế thay thế, sử dụng từ cổ, từ mờ nghĩa, điển cố, phong tục tập quán) và tổ chức cú pháp (láy ghép, so sánh ẩn dụ, hoán dụ).
    • Tính hài hòa cân đối: Kết cấu đối xứng hai vế chẵn âm tiết, bình đẳng về ngữ pháp và phân bố thanh điệu, cho phép khả năng hoán chuyển hoặc phân ly khi vận dụng.
    • Phương thức cấu tạo: Điệp (điệp thanh, điệp từ, điệp cấu trúc Danh - Danh, Danh - Động, Danh - Tính, Động - Động, Động - Danh, Tính - Danh...), Đối (đối ngữ nghĩa, đối ngữ âm, đối ngữ pháp theo Bùi Khắc Việt, 1987), và So sánh (các mô hình: A t như B, A như B, t như B, như B).
  • Đặc điểm nội dung ngữ nghĩa: Tính chỉnh thể hình tượng (nghĩa biểu trưng khái quát hóa qua các tín hiệu thẩm mỹ) và tính hàm súc (gắn kết văn hóa, lược bỏ liên từ biểu thị quan hệ, kết cấu nói lửng).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai gồm 3 phương pháp chính:

  1. Phương pháp thống kê: Định lượng số lượng thành ngữ, số lượt xuất hiện, phân loại thành ngữ Hán - Việt, thành ngữ nguyên dạng, và thành ngữ biến hóa sáng tạo trong từng tác phẩm.
  2. Phương pháp phân tích: Phân tích ngữ nghĩa, cấu trúc cú pháp và hiệu quả biểu đạt của các ngữ liệu thành ngữ trong văn cảnh cụ thể.
  3. Phương pháp so sánh: Đối chiếu đặc điểm sử dụng thành ngữ của Nguyễn Đình Chiểu với các tác phẩm văn học trung đại khác (Truyện Kiều, Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm) nhằm xác định phong cách cá nhân của tác giả.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về thành ngữ tiếng Việt

Chương này tập trung xác lập hệ thống tiêu chí lý thuyết để nhận diện và phân loại thành ngữ:

  • Phân tích chi tiết khái niệm và 3 đặc trưng cốt lõi: tính cố định về cấu trúc, chức năng tương đương từ, và ý nghĩa mang tính biểu trưng.
  • Làm rõ đặc điểm hình thức qua tính cố định ngữ âm (hệ thống thanh điệu, vần lưng tạo tính khép kín), tính cố định từ vựng (hiện tượng mờ nghĩa ở từ cổ như đâm ba chẻ củ, cha căng chú kiết, hay điển tích như sư tử Hà Đông, châu về Hợp Phố).
  • Khảo sát tính hài hòa cân đối và 3 phương thức tạo thành ngữ: phương thức điệp (điệp thanh điệu, điệp từ ngữ và điệp cấu trúc ngữ pháp giữa hai vế), phương thức đối (quan hệ đối xứng ngữ nghĩa là căn bản), và phương thức so sánh (cơ chế lược bỏ chuyển từ so sánh sang ẩn dụ).
  • Phân tích đặc trưng ngữ nghĩa: tính chỉnh thể hình tượng (các yếu tố đóng vai trò tín hiệu thẩm mỹ tạo nên ý nghĩa biểu trưng trừu tượng) và tính hàm súc (sự dồn nén thông tin thông qua việc lược bỏ từ nối và sử dụng các biện pháp tu từ).

Chương 2: Thành ngữ trong thơ Nguyễn Đình Chiểu

Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, khảo sát thực tế ngữ liệu qua 3 truyện thơ Nôm:

1. Tần số xuất hiện của thành ngữ:

  • Lục Vân Tiên: 124 thành ngữ với 133 lượt dùng; 49 thành ngữ biến hóa sáng tạo (56 lượt dùng, chiếm 39%); 20 thành ngữ Hán - Việt nguyên vẹn (chiếm 16%).
  • Dương Từ - Hà Mậu: 99 thành ngữ với 110 lượt dùng; 38 thành ngữ biến hóa sáng tạo (46 lượt dùng, chiếm 38%); 9 thành ngữ Hán - Việt nguyên vẹn (chiếm 9%).
  • Ngư tiều y thuật vấn đáp: 89 thành ngữ với 106 lượt dùng; 36 thành ngữ biến hóa sáng tạo (47 lượt dùng, chiếm 40%); 11 thành ngữ Hán - Việt nguyên vẹn (chiếm 12%).

2. Đặc điểm thành ngữ trong thơ Nguyễn Đình Chiểu:

  • Mang tính bình dân, giàu màu sắc khẩu ngữ: Ưu tiên sử dụng khẩu ngữ thường ngày (ghét cay ghét đắng, đờn gảy tai trâu, nước xao đầu vịt, chẳng chóng thì chày, đau như cắt ruột...). Trong tổng số 313 thành ngữ khảo sát, chỉ có 51 thành ngữ Hán - Việt (tính cả dạng biến hóa). Nguyễn Đình Chiểu ít sử dụng các thành ngữ trau chuốt, đài các như trong Truyện Kiều (tài tử giai nhân, quốc sắc thiên hương, tú khẩu cẩm tâm...).
  • Mang tính địa phương Nam Bộ rõ nét: Khóa luận thống kê 29 thành ngữ mang dấu ấn phương ngữ Nam Bộ (Ba vơ bá vất, Bang lảng bơ lơ, Chim kêu vượn hú, Con tạo trớ trinh, Cùi đui làm ăn, Dòm beo trong ống, Đá nệm cây mùng, Đờn gảy tai trâu, Đường chim dấu thỏ, Hú gió kêu mưa, Khô lân chả phụng, Nay chích mai đầm, Nay dời mai vịnh, Nay vũng mai bàu, Như sề thịt trâu, No ngày khấm tháng, Nợ lâu đốt khế, Nước xao đầu vịt, Quan tiền chén gạo, Rượu dầm trong bụng, Sa hầm sẩy hang, Sai chim khiến vượn, Thấy sao hay vậy, Thuốc châm môi cọp, Tứ tung linh tàng, Trời sanh trời dưỡng, Vẽ hùm ra chó, Vò vò nuôi nhện, Vùa hương bát nước). Những thành ngữ này phản ánh không gian sông nước hoang sơ, nếp sinh hoạt ngư nghiệp và đời sống tâm linh, phong tục miền Nam.
  • Tập trung thể hiện nội dung đạo đức, nhân nghĩa: Phản ánh đạo lý làm người trong đời sống lao động:
    • Công lao cha mẹ: ơn cha nghĩa mẹ, sanh thành dưỡng dục, chín chữ cù lao.
    • Đạo vua tôi: phu tử quân thần, thảo cha ngay chúa, vua thánh tôi hiền.
    • Ơn nghĩa xã hội: ơn nước nợ nhà, ơn cao nghĩa dày, đền ơn đáp nghĩa.
    • Phẩm chất, thái độ sống: trọng nghĩa khinh tài, kiến ngãi bất vi, đá nát vàng phai, gan vàng dạ sắt, thủy chung như nhất.
    • Lên án cái xấu, cái ác: sâu dân mọt nước, lòng lang dạ cáo, đổi trắng thay đen, khua môi múa mép, tham đó bỏ đăng, chơi trăng quên đèn.
    • Đề cao y đức trong Ngư tiều y thuật vấn đáp: lương y như từ mẫu, phê phán thầy thuốc bất lương khua chiêng gióng trống, so hơn tính thiệt.

3. Cách thức sử dụng thành ngữ của Nguyễn Đình Chiểu:

  • Sử dụng nguyên dạng: Thống kê khoảng 195 thành ngữ dùng nguyên văn cấu tạo và ý nghĩa (non xanh nước biếc, vua thánh tôi hiền, xuân bất tái lai, chín chữ cù lao...), bao gồm cả việc chấp nhận các biến thể ngữ âm/từ vựng tự nhiên (trăng thanh gió mát / gió mát trăng thanh, vật đổi sao đời / sao đời vật đổi, vò vò nuôi nhện thay cho tò vò nuôi nhện).
  • Sáng tạo linh hoạt qua các thao tác biến đổi:
    • Thay đổi yếu tố: Thay 1 yếu tố do yêu cầu gieo vần lục bát (tạc dạ ghi lòng $\rightarrow$ tạc dạ ghi lời; duyên sắt cầm $\rightarrow$ dây sắt cầm) hoặc do dụng ý nghệ thuật (ăn gió nằm sương $\rightarrow$ ăn tuyết nằm sương; nhện giăng bụi bám $\rightarrow$ nhện giăng bụi đóng; dời non lấp biển $\rightarrow$ dời non trở biển); Thay 2 yếu tố để tăng sắc thái ngữ nghĩa (phách lạc hồn xiêu $\rightarrow$ phách khiếp hồn kinh; đổi trắng thay đen $\rightarrow$ trở trắng làm đen).
    • Lược bớt yếu tố: Cắt đôi lấy một nửa (gan vàng dạ sắt $\rightarrow$ gan vàng; khuynh quốc khuynh thành $\rightarrow$ khuynh thành; kết tóc xe tơ $\rightarrow$ kết tóc); Rút gọn giữ từ trọng tâm (bể dâu, tóc tơ); Lược bỏ trong kết cấu so sánh A như B (phận bạc như vôi $\rightarrow$ phận bạc; gầy như xác ve $\rightarrow$ mình ve; đau như cắt ruột $\rightarrow$ như cắt ruột gan).
    • Thay đổi cấu trúc: Tách cấu trúc thành ngữ đối (nửa tin nửa ngờ $\rightarrow$ nửa tin rằng bạn nửa ngờ rằng ai; sanh thành dưỡng dục $\rightarrow$ nhớ câu dưỡng dục lo ơn sinh thành; tham quan ô lại $\rightarrow$ trong thời gian nịnh giúm đầu / ngoài thời ô lại đua cầu tham quan); Đảo cấu trúc cú pháp nhằm hiệp vần hoặc nhấn mạnh (hoa trôi bèo giạt $\rightarrow$ trôi hoa giạt bèo; lành ít dữ nhiều $\rightarrow$ ít lành nhiều dữ).
    • Dịch ý - diễn ý, mượn "thần" của thành ngữ: Dịch nghĩa thành ngữ Hán - Việt sang lời thuần Việt (tuyết trung tống than $\rightarrow$ trong tuyết đưa than; an cư lạc nghiệp $\rightarrow$ ở an lạc nghiệp; sinh bất phùng thời $\rightarrow$ sanh không gặp thời / sanh chẳng gặp thời); Diễn ý tạo thành ngữ "tiềm ẩn" (nước đổ khó bốc $\rightarrow$ bưng bát nước đầy / đổ ngay xuống đất hốt rày sao xong; vén mây xem trời $\rightarrow$ vén mây mới thấy trời xanh; ếch ngồi đáy giếng $\rightarrow$ bấy lâu ngồi giếng xem trời; gián đâu bắn sẻ gươm đâu giết ruồi $\rightarrow$ giết ruồi ai dụng gươm vàng làm chi).
  • Phối hợp nhiều thành ngữ trong diễn đạt: Sử dụng chùm thành ngữ liên hoàn để khắc họa tính cách nhân vật (lời ông Quán dùng liên tiếp: ếch ngồi đáy giếng, đờn gảy tai trâu, nước xao đầu vịt; đoạn tả Dương Từ: mặt ủ mày chau, ruột đau như dần); Lặp lại một motif thành ngữ biến hóa qua nhiều đoạn văn cảnh (hồng nhan bạc phận xuất hiện qua các biến thể: phận bạc là ta, má hồng vô duyên, phận gái hồng nhan, tiếc phận hồng nhan để tô đậm số phận Kiều Nguyệt Nga).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đưa ra bảng tổng hợp định lượng về hệ thống thành ngữ trong 3 truyện thơ Nôm của Nguyễn Đình Chiểu:

Tác phẩm Số lượng thành ngữ Số lượt xuất hiện Thành ngữ biến hóa, sáng tạo Tỷ lệ sáng tạo (%) Thành ngữ Hán - Việt nguyên vẹn Tỷ lệ Hán - Việt (%)
Lục Vân Tiên 124 133 49 (56 lượt) ~39% 20 16%
Dương Từ - Hà Mậu 99 110 38 (46 lượt) ~38% 9 9%
Ngư tiều y thuật vấn đáp 89 106 36 (47 lượt) ~40% 11 12%
Tổng cộng 312 349 123 39% 40 13%

Ghi chú: Trong số 40 thành ngữ Hán - Việt nguyên vẹn, có khoảng 10 thành ngữ được tác giả dịch nghĩa sang tiếng Việt hoặc dùng đơn vị thuần Việt tương đương (chiếm tỷ lệ 25%).

Đóng góp khoa học của khóa luận:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát thành ngữ ra toàn bộ 3 tác phẩm truyện thơ lớn của Nguyễn Đình Chiểu, khắc phục tính đơn lẻ của các nghiên cứu trước đó vốn chỉ tập trung vào Lục Vân Tiên.
  • Định lượng và lập danh mục cụ thể 29 thành ngữ mang đậm dấu ấn địa phương Nam Bộ, khẳng định vai trò của phương ngữ trong phong cách thi pháp của Đồ Chiểu.
  • Hệ thống hóa các phương thức biến đổi hình thức và ngữ nghĩa của thành ngữ trong thơ lục bát (thay đổi yếu tố, lược bớt, phân tách, đảo trật tự, dịch nghĩa và diễn ý tiềm ẩn), chứng minh sự sáng tạo ngôn ngữ của tác giả trên nền tảng lời ăn tiếng nói dân gian.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát của khóa luận giới hạn trong 3 truyện thơ Nôm (Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu, Ngư tiều y thuật vấn đáp), chưa bao quát mảng thơ văn chữ Hán, văn tế (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh) và hệ thống thơ điếu, thơ yêu nước thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đối chiếu hệ thống thành ngữ của Nguyễn Đình Chiểu với các tác giả truyện thơ Nôm cùng thời ở Nam Bộ (như Huỳnh Mẫn Đạt, Phan Văn Trị...) hoặc so sánh đối sánh định lượng cấu trúc thành ngữ giữa truyện Nôm Nam Bộ và truyện Nôm bác học Bắc Bộ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, Ngôn ngữ học tiếng Việt và Văn học Việt Nam khi nghiên cứu về phong cách học ngôn ngữ nghệ thuật và thi pháp truyện thơ Nôm.
  • Giáo viên giảng dạy Ngữ văn tại các trường phổ thông khi khai thác giá trị ngôn từ, biện pháp tu từ trong tác phẩm Lục Vân Tiên.
  • Các phần đáng tham khảo trực tiếp gồm: Bảng phân loại các mô hình thanh điệu của thành ngữ tiếng Việt (Chương 1), Bảng thống kê các phương thức biến hóa thành ngữ trong thơ lục bát (Chương 2), và Phụ lục tra cứu danh mục thành ngữ kèm vị trí dòng thơ trong cả 3 truyện thơ.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận thống kê được bao nhiêu thành ngữ trong cả 3 truyện thơ của Nguyễn Đình Chiểu?
Tổng số thành ngữ được thống kê là 312 thành ngữ với 349 lượt xuất hiện (Lục Vân Tiên có 124 thành ngữ/133 lượt; Dương Từ - Hà Mậu có 99 thành ngữ/110 lượt; Ngư tiều y thuật vấn đáp có 89 thành ngữ/106 lượt).

2. Tính địa phương Nam Bộ thể hiện qua bao nhiêu thành ngữ và gồm những ví dụ tiêu biểu nào?
Khóa luận xác định có 29 thành ngữ địa phương Nam Bộ, tiêu biểu như: ba vơ bá vất, bang lảng bơ lơ, chim kêu vượn hú, đờn gảy tai trâu, đường chim dấu thỏ, hú gió kêu mưa, nay chích mai đầm, như sề thịt trâu, nước xao đầu vịt, tứ tung linh tàng, vò vò nuôi nhện...

3. Tác giả chỉ ra những hình thức biến hóa, sáng tạo thành ngữ nào của Nguyễn Đình Chiểu?
Có 4 hình thức chính: (1) Thay đổi 1 hoặc 2 yếu tố từ vựng; (2) Lược bớt yếu tố (cắt đôi lấy một nửa, rút gọn lấy từ trọng tâm, lược bớt thành phần trong kết cấu so sánh); (3) Thay đổi cấu trúc (tách cấu trúc đối, đảo trật tự từ); (4) Dịch ý thành ngữ Hán - Việt và diễn ý mượn "thần" của thành ngữ (thành ngữ tiềm ẩn).

4. Tỷ lệ thành ngữ Hán - Việt trong thơ Nguyễn Đình Chiểu được thống kê như thế nào?
Thành ngữ Hán - Việt nguyên vẹn chỉ chiếm khoảng 13% (40 thành ngữ trên tổng số 312). Trong số đó, có khoảng 10 thành ngữ (25%) được nhà thơ chủ động dịch nghĩa sang tiếng Việt hoặc thay bằng thành ngữ thuần Việt tương đương nhằm tăng tính bình dân, đại chúng.

5. Hiện tượng "thành ngữ tiềm ẩn" trong khóa luận được chứng minh qua những câu thơ nào?
Hiện tượng này thể hiện khi câu thơ mượn ý nghĩa cốt lõi của thành ngữ mà không dùng nguyên văn, ví dụ: Giết ruồi ai dụng gươm vàng làm chi (mượn từ Gián đâu bắn sẻ, gươm đâu giết ruồi); Bưng bát nước đầy / Đổ ngay xuống đất hốt rày sao xong (mượn từ Nước đổ khó bốc); Vén mây mới thấy trời xanh (mượn từ Vén mây xem trời).

Kết luận

Khóa luận của Nguyễn Thị Hạnh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thành ngữ tiếng Việt và khảo sát thực chứng trên ngữ liệu 3 truyện thơ Nôm của Nguyễn Đình Chiểu. Công trình xác lập các số liệu thống kê cụ thể về tần số, tỷ lệ thành ngữ nguyên dạng, biến hóa sáng tạo và thành ngữ địa phương Nam Bộ. Kết quả nghiên cứu khẳng định đặc trưng ngôn ngữ bình dị, đậm chất khẩu ngữ dân gian và tinh thần đề cao đạo lý nhân nghĩa trong sáng tác của nhà thơ đất Bến Tre.