Đặt vấn đề Kinh tế vườn không những đã giúp cho nông dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cải thiện đời sống một cách rất đáng kể mà còn ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế khu vực. Diện tích vườn cây ăn quả ở ĐBSCL đã gia tăng nhanh chóng, với mức độ tăng gần gấp đôi trong vòng 10 năm. Bên cạnh những loại cây như: bưởi, sầu riêng, cam sành,… được trồng phổ biến thì cây vú sữa cũng ngày càng khẳng định vị trí của mình trong cơ cấu vườn cây ăn quả cũng như trên thị trường tiêu thụ trong nước và quốc tế. Và khi nói đến Tiền Giang thì không ai không biết quả vú sữa đã có từ lâu đời, loài cây ăn quả này cũng có trồng ở nhiều nơi ở ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung, nhưng không nơi đâu trồng lại mang hương vị thơm ngon và đặc trưng.
Đặc biệt, vú sữa Lò rèn Vĩnh Kim là giống vú sữa đặc sản nổi tiếng của tỉnh. Cũng giống như nhiều loại cây ăn quả khác, trong quá trình phát triển, cây vú sữa cũng gặp nhiều vấn đề về sâu bệnh hại, trong đó có ruồi đục trái làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng cây trồng. Theo Cendana et al. (1984), Nguyễn Văn Huỳnh và Võ Thanh Hoàng (1997), ruồi Dacus dorsalis và sâu Alophia sp.
là hai loài gây hại trên quả vú sữa. Trong phòng trừ sâu hại, thuốc trừ sâu hóa học có ưu điểm là diệt trừ nhiều loại sâu hại trên diện tích lớn, vì chúng tác dụng nhanh mà giá thành lại thấp nên trong nhiều năm liền thuốc chiếm vị trí gần như thống lĩnh trong việc bảo vệ cây trồng. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc hóa học không hợp lý trong một thời gian dài và không đúng cách đã dẫn đến tình trạng kháng thuốc của sâu hại, gây hậu quả nghiêm trọng tới môi trường và quan trọng hơn hết còn là vấn đề sức khỏe của con người. Các chế phẩm sinh học có nhiều ưu điểm nổi bật và có thể thay thế một phần thuốc hóa học, do chế phẩm không gây độc hại cho người và gia súc, không có tác dụng xấu tới môi trường, không tiêu diệt những thiên địch có ích.
Trong số các loài nấm có ích đã được nghiên cứu thì nấm Paecilomyces được 1 xem là có triển vọng vì hiệu lực diệt sâu cao, mức độ lây lan trong quần thể rộng và kéo dài lại không độc hại với con người và môi trường (Environmental, 2005). Nấm Paecilomyces được nghiên cứu ở các nước trên thế giới như: Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ và Bỉ để sản xuất chế phẩm sinh học như loài nấm Paecilomyces fumosoroseus có khả năng thương mại hóa trên thị trường nhằm phòng trừ rệp sáp và rầy mềm (Kunimi, 2005). Ở Việt Nam, Trần Văn Huy (2012) đã thu thập và nghiên cứu nấm Paecilomyces javanicus, đã xác định nấm P. javanicus có tiềm năng ký sinh gây chết rầy nâu.
Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu sử dụng nấm Paecilomyces trong phòng trừ ruồi đục trái gây hại quả vú sữa. Xuất phát từ thực tiễn đó, với mong muốn xác định nấm ký sinh côn trùng có hiệu lực phòng trừ ruồi đục trái Bactrocera sp. gây hại quả vú sữa, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Đức Thành - Bộ môn Công nghệ Vi sinh, Viện Di truyền Nông nghiệp và TS.
Nguyễn Thị Lâm Hải- Bộ môn Công nghệ Sinh học Thực vật, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và đánh giá hiệu lực phòng trừ ruồi đục trái Bactrocera sp. gây hại quả vú sữa của nấm Paecilomyces”. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Phân lập, xác định đặc điểm sinh học của nấm Paecilomyces và đánh giá hiệu lực phòng trừ ruồi đục trái Bactrocera sp.
gây hại trên quả vú sữa. Yêu cầu - Phân lập nấm, định danh nấm Paecilomyces trên các mẫu côn trùng thu thập tại tỉnh Tiền Giang. - Xác định một số đặc điểm sinh học của mẫu nấm Paecilomyces đã tuyển chọn trong điều kiện in vitro. - Đánh giá hiệu lực phòng trừ ruồi đục trái Bactrocera sp.
(pha sâu non, pha nhộng và pha trưởng thành) của mẫu nấm Paecilomyces đã tuyển chọn. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Phân loại khoa học Theo cơ sở dữ liệu Oxford (2020), cây vú sữa có tên khoa học là Chrysophyllum cainito thuộc: Bộ: Ericales Họ: Sapotaceae Chi: Chrysophyllum Loài: Chrysophyllum cainito 2. Đặc điểm chung cây vú sữa Cây vú sữa là cây mọc thẳng, cao trung bình từ 8 đến 30 mét, đường kính thân trung bình là 1 mét.
Cây thường có một số nhánh con có lông màu nâu, bên trong có nhựa mủ màu trắng. Lá hình elip thuôn dài, sờ vào hơi bóng, màu xanh lục đậm và bóng ở mặt trên, phủ một lớp bóng mượt, bên dưới có màu nâu vàng (Morton, 1987). Hoa vú sữa nhỏ, không dễ thấy, mọc thành chùm, màu vàng lục đến vàng, hoặc trắng tía với tràng hoa hình ống, 5 thùy, và 5 hoặc 6 lá đài. Quả thường tròn, hình bầu dục, hình elip, và đường kính 5 - 10 cm.
Màu sắc của quả có thể là đỏ tím, tím sẫm hoặc xanh lục nhạt. Cùi quả mềm, màu trắng, sữa, vị ngọt và có thể có tới 10 hạt cứng dẹt, lúc đầu màu đen, có vùng sáng ở mặt bụng, sau chuyển sang màu nâu nhạt khi khô (Yahia and Gutierrez-Orozco, 2011). Quả vú sữa có kích thước to bằng một nắm tay, có hình tròn, vỏ của quả có màu sắc khác nhau tùy vào giống của cây. Thông thường khi xanh quả có màu xanh và khi chín thì có màu tím và màu trắng ánh xanh lục.
Vỏ có nhiều nhựa mủ và không ăn được có vị chát. Bên trong có hạt dẹt, có màu nâu nhạt và cứng không ăn được. Thịt của rất ngọt chủ yếu do hàm lượng glucose cao, cùng với các thông tin dinh dưỡng khác. Hạt chứa 1,2% glycoside đắng, cyanogenic, lucumin và một số hợp chất hoạt động.
Quả vú sữa chứa khoảng 78,4–85,7% nước. Mỗi 3 100g có 0,72–2,33 g protein, 14,65 g carbohydrate và từ 8,45 đến 10,39 g tổng số đường. Hơn nữa, quả vú sữa cũng chứa một số khoáng chất, vitamin và axit amin (Đoàn văn Hậu và Lê Thị Phương Thảo, 2020). Tình hình sản xuất vú sữa trên thế giới Cây vú sữa được phổ biến ở Costa Rica, Cuba, Dominica, Haiti, Honduras, Jamaica, Mexico, Antilles của Hà Lan, Nicaragua, Panama, v.
Cây này là một loại trái cây ngoại lai được trồng ở Hoa Kỳ, Uruguay, Venezuela, Argentina, Brazil, Chile, Trung Quốc, Colombia, Peru, Philippines, Thái Lan, và nhiều quốc gia ở Châu Phi như Ai Cập, Congo, Ethiopia, Nam Phi, Mozambique và Zimbabwe (Orwa, 2009). Ở nơi khác cây vú sữa được trồng ở các nước khác nhau như: Nam Mỹ, Nam Ấn Độ, Thái Lan, Antilles. Lá không rụng thường xanh, quả vú sữa được đánh giá cao về giá trị của nó và được trồng ở miền Bắc Úc nhưng căn bản vẫn còn hạn chế. Tình hình sản xuất vú sữa tại Việt Nam Vú sữa được trồng tập trung ở Nam Bộ, gồm các tỉnh thành Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Cần Thơ, Cà Mau.
Riêng Tiền Giang trồng nhiều vú sữa nhất với hơn 3.000 hecta, chủ yếu ở huyện Châu Thành (Nguyễn Trang, 2019). Năm 2018, tỉnh Tiền Giang đã xuất khẩu được 43 tấn trái vú sữa vào thị trường Hoa Kỳ được sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. Tiền Giang có trên 77.000 ha cây ăn quả các loại, sản lượng hàng năm trên 1. Có 3 tỉnh có diện tích trồng vú sữa tập trung lớn gồm: Tiền Giang, Hậu Giang và Tp.
Cần Thơ với quy mô khoảng 5. Trong đó, Tiền Giang lớn nhất với khoảng 3.100 ha tập trung tại huyện Châu Thành và các huyện lân cận (Minh Trí, 2018). Phân loại và phân bố nấm Paecilomyces Theo cơ sở dữ liệu Oxford năm 2020 các loài nấm thuộc chi Paecilomyces được phân loại như sau: 4 Giới: Fungi; Nghành: Ascomycota; Lớp: Euascomycetes; Bộ: Eurotiales; Họ: Trichocomaceae; Chi: Paecilomyces. Chi Paecilomyces trên thế giới có khoảng 31 loài và phân bố diện rộng trong đó có một số loài có thể kể đến là: P.
Liang (1981) đã phân lập được nấm Paecilomyces, nấm này có thể ký sinh trên nhiều loài thuộc bộ Cánh cứng, bộ Cánh màng, bộ Cánh vẩy và bộ hai cánh. Nấm Paecilomyces là nhóm ký sinh côn trùng có phổ ký rộng và hiện diện phổ biến trong tự nhiên cả ở vùng nhiệt đới và ôn đới. Ngoài ra, nấm Paecilomyces phổ biến sống trong đất, trên tàn dư thực vật. Các loài Paecilomyces dễ dàng được tìm thấy ở đất tơi xốp, xác bã hữu cơ, thức ăn (Pau and Leong 2012).
Một số loài quan trọng trong phòng trừ sinh học như: - P. lilacinus: phân lập từ xác bã hữu cơ, đôi khi ở côn trùng chết. fumosoroseus: phân lập từ đất, côn trùng. carneus: phân lập từ đất và xác chết côn trùng.
farinosus: phân lập từ đất. Đặc điểm về hình thái nấm Paecilomyces Khi nuôi cấy trên các môi trường nhân tạo, nấm có một số thay đổi về mặt hình thái tùy thuộc vào những điều kiện và môi trường nuôi cấy khác nhau. Nấm Paecilomyces đặc trưng với những đặc điểm sau: Nấm Paecilomyces có tản nấm dạng thảm nhung, bó sợi có màu trắng, hồng nhạt đến tím, có khi màu nâu vàng hoặc nâu xám, thỉnh thoảng có màu lục nhạt (Dwayne and George, 1993). Sợi nấm mềm, phát triển đa số có vách ngăn ngang, trong suốt.
Khi nuôi cấy trên môi trường nhân tạo hay một số cơ chất tự nhiên khuẩn lạc thường mọc theo hình tròn đồng tâm, dạng thảm nhung hoặc bó sợi. 5 Cuống bào tử phân sinh phân nhánh, mức độ phân nhánh lớn, gốc cuống dạng phình to, phía trên nhỏ và uốn cong. Cuống bình sắp xếp dạng vòng hoặc không đồng đều. Bào tử phân sinh đơn bào, không màu, mọc thành chuỗi, hình bầu dục bề mặt nhẵn hoặc có gai (Trần Văn Mão, 2004).
Tế bào sinh bào tử mọc thành đám vòng mang những bào tử đính với các thể bình mọc theo vòng xoắn lệch nhau, hình dạng thể bình có đế hình trụ hoặc bị phồng lên ở bên dưới và giảm dần thành một cổ hẹp. Đặc điểm hình thái nấm Paecilomyces lilacinus a: nấm trên môi trường MEA, b: cành bào tử, c: bào tử Nguồn: Houbraken et al. Đặc điểm sinh học của nấm Paecilomyces 2. Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy Môi trường nuôi cấy là yếu tố quan trọng cho nấm ký sinh côn trùng sinh trưởng và phát triển.
Nếu môi trường không tốt sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm vì trong quá trình nảy mầm để hình thành bào tử nấm cần các nguồn cacbon, nitơ, các nguyên tố vi lượng C++, Zn++, K++, Mg++ để phát triển.