CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Bối cảnh nghiên cứu Đề tài này được nghiên cứu tại Công ty TNHH Đầu Tư Nam Á CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ NAM Á Tên quốc tế SOUTH ASIA INVESTMENT COMPANY LIMITED Tên viết tắt SAIN CO.,LTD Mã số thuế 0101891641 Tổ 6, Phường Thượng Thanh, Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, Địa chỉ Việt Nam Người đại BÙI ĐỨC TOÀN ( sinh năm 1980 - Hà Nội) Ẩn thông tin diện Điện thoại 0973652265 Ngày hoạt 2006-03-14 động Quản lý bởi Chi cục thuế Quận Long Biên Quá trình hình thành và phát triển Công ty TNHH Đầu Tư Nam Á Giới thiệu chung Thành lập năm 2003, Công ty TNHH Đầu tư Nam Á được biết đến như một nhà sản xuất, cung cấp chuyên nghiệp các sản phẩm Băng dính, màng PE chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của các đối tác trong ngành may mặc, giày dép, thực phẩm, đồ uống, in ấn, đóng gói,. - Bên cạnh đó, chúng tôi còn cung cấp máy móc, máy sản xuất băng keo, máy cuộn, máy phân cuộn băng keo, máy in logo,. Với 15 năm kinh nghiệm hoạt động Nam Á tự hào luôn cung cấp những sản phẩm chất lượng hàng đầu bởi: - Hệ thống máy móc hiện đại - Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp - Chiến lược phát triển chú trọng tối đa vào việc thoải mãn nhu cầu của khách hàng 7 - Sử dụng công nghệ sản xuất tối ưu và giá cả cạnh tranh với thị trường.
Đến với chúng tôi, khách hàng luôn được đáp ứng tối đa yêu cầu của mình. Cụ thể các tiêu chuẩn, thông số kĩ thuật được cam kết chính xác như: chiều dài cuộn, khổ rộng hay độ bán dính, khả năng chịu nhiệt, trọng lượng,… với chính sách bán hàng linh hoạt, phương pháp vận chuyển và thanh toán tối ưu, thuận lợi nhanh chóng và hiệu suất cao. Ngành nghề kinh doanh Băng Keo, Băng Dính Băng Keo OPP (Trong, Đục và Màu), Băng Keo Dán Thùng Băng Keo In Logo, Băng Dính In Chữ Màng PE, Màng Chít - Nhà Sản Xuất Băng Keo - Máy Sản Xuất Băng Keo 1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài kế toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH Đầu Tư Nam Á Cùng với xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới, trong những năm vừa qua nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều chuyển biến khởi sắc.
Ngày càng nhiều các doanh nghiệp, công ty hoạt động trong các lĩnh vực ngành nghề đa dạng phục vụ những nhu cầu cuộc sống khác nhau của con người trong xã hội. Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta vẫn còn gặp nhiều khó khăn, một trong những vấn đề gây nhức nhối đó là lạm phát. Lạm phát khiến chi phí giá cả hàng hóa ngày càng tăng, khiến cho người tiêu dùng cũng thắt chặt chi tiêu và khắt khe trong việc lựa chọn sản phẩm. Chính vì vậy, sự cạnh tranh để tồn tại giữa các doanh nghiệp cũng trở nên gay gắt hơn.
Để có thể khẳng định chỗ đứng của mình thì bất kể doanh nghiệp nào cũng cần phải có những đường lối chính sách cũng như các công cụ quản lý đắc lực. Đặc biệt là đối với những doanh nghiệp sản xuất cần có những giải pháp đảm bảo giá thành sản phẩm mà vẫn giữ được chất lượng sản phẩm tốt. Và để thực hiện được điều đó cần đến công tác quản lý và kế toán nguyên vật liệu. Là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, nguyên vật liệu chiếm phần tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất và trong giá thành sản phẩm của doanh nghiệp, có tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp.
Nguyên 8 vật liệu còn là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp quan trọng phản ánh trình độ quản lý, sử dụng vật tư, trình độ tổ chức công nghệ sản xuất sản phẩm, là cơ sở kế toán tính đúng chi phí sản xuất cho từng đơn vị sản phẩm và tổng giá vốn hàng bán. Nhất là trong điều kiện kinh tế khó khăn như hiện nay, việc sử dụng nguyên vật liệu có hiệu quả là một mục tiêu quan trọng để doanh nghiệp thu được lợi nhuận nhiều nhất. Vì vậy, việc tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu một cách hợp lý, khoa học, phù hợp với đặc điểm tổ chức, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là mục tiêu quan trọng mà doanh nghiệp nào cũng muốn thực hiện được. Nhận thức được vấn đề này, trong quá trình thực tập tại Công ty TNHH Đầu Tư Nam Á, em đã đi sâu vào tìm hiểu phần hành kế toán nguyên vật liệu và chọn đề tài: “Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH Đầu Tư Nam Á”.
Công ty TNHH Đầu Tư Nam Á là một công ty thương mại, vì vậy hàng hóa là một yếu tố quan trọng của công ty. Chính vì thế mà việc nghiên cứu các nguyên tắc và phương pháp tính giá hàng hóa, phương pháp hạch toán kế toán hàng hóa trong doanh nghiệp là hết sức cần thiết, bởi vì mỗi phương pháp tính giá trị hàng hóa khác nhau thì các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính cũng thay đổi. Việc lựa chọn một phương pháp tính giá thích hợp cho doanh nghiệp là rất cần thiết. Nhận thức được tầm quan trọng của kế toán hàng hóa đối với Công ty TNHH Đầu Tư Nam Á, do đó tôi đã chọn đề tài “Thực trạng công tác kế toán hàng hóa tại Công ty TNHH Đầu Tư Nam Á” làm khóa luận tốt nghiệp với mong muốn trau dồi và củng cố kiến thức về mặt lý luận cũng như học hỏi kinh nghiệm thực tế để hoàn thiện hơn những kiến thức đã học và phục vụ cho công việc sau này.
Nguồn lực của công ty 9 Bảng. Tình hình tài sản – nguồn vốn của Công ty TNHH Đầu tư Nam Á giai đoạn 2017-2019 Đơn vị tính: VND CHỈ TIÊU Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 2018/2017 2019/2018 Giá trị % Giá trị % Giá trị % +/- % +/- % A. TÀI SẢN NGẮN HẠN 19. Tiền và các khoản tương đương tiền 3.
Đầu tư tài chính ngắn hạn - - - - - - - - - - III. Các khoản phải thu ngắn hạn 11. Hàng tồn kho 4. Tài sản ngắn hạn khác 0 0,00 73.
TÀI SẢN DÀI HẠN 105. Các khoản phải thu dài hạn 12. Tài sản cố định 76. Bất động sản đầu tư 0 0,00 3.
Tài sản dở dang dài hạn 587. Đầu tư tài chính dài hạn 13. Tài sản dài hạn khác 3.398 27,11 TỔNG CỘNG TÀI SẢN 124. NỢ PHẢI TRẢ 77.
Nợ ngắn hạn 60. Nợ dài hạn 16. VỐN CHỦ SỞ HỮU 47. Vốn chủ sở hữu 47.
Nguồn kinh phí, quỹ khác - - - - - - - - - - TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN 124.190 -4,39 10 Nguồn : Phòng tài chính Công ty TNHH Đầu tư Nam Á 11 Về tình hình tài sản, tổng tài sản của công ty biến động qua các năm. Cụ thể, năm 2018 tăng hơn 13 tỷ đồng, tương ứng tăng 10,62% so với năm 2017. Nhưng vào năm 2017, tổng tài sản ở mức hơn 132 tỷ, giảm hơn 6 tỷ đồng, tức giảm 4,39% so với năm 2016. Những biến động về tài sản đó là do sự biến động của tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn qua các năm.
Trong năm 2018, tài sản ngắn hạn tăng từ gần 20 tỷ đồng (năm 2017) lên đến hơn 29 tỷ đồng, tương ứng tăng 47,22% so với năm 2017. Sự biến động này là do các yếu tố cấu thành nên tài sản ngắn hạn tác động tới. Tiền và các khoản tương đương tiền tăng mạnh, tăng gần 4,5 tỷ đồng, tương ứng tăng 115,16% ; các khoản phải thu ngắn hạn tăng hơn 3 tỷ đồng, tương ứng tăng 28,71%; hàng tồn kho tăng hơn 1,5 tỷ đồng, tương ứng tăng 33,96% và tài sản ngắn hạn khác tăng từ 0 đồng lên gần 1 tỷ đồng so với năm 2017. Đến năm 2019 thì tài sản ngắn hạn tăng nhẹ so với năm 2018.
Cụ thể, năm 2019 giá trị tài sản ngắn hạn là hơn 30,5 tỷ đồng, tăng so với năm 2018 hơn 1,5 tỷ đồng, tương ứng tăng 5,34%. Trong đó, các khoản phải thu ngắn hạn tăng hơn 3 tỷ đồng, tương ứng tăng 22,36%. Ngược lại, tiền và các khoản tương đương tiền giảm hơn 0,5 tỷ đồng, tương ứng giảm 7,95%; hàng tồn kho giảm gần 1 tỷ đồng, tương ứng giảm 13,78% và tài sản ngắn hạn khác giảm hơn 60 triệu đồng, tương ứng giảm 81,51% so với năm 2018. Tài sản dài hạn của công ty qua 3 năm biến động không ngừng.
Trong năm 2018, tài sản dài hạn tăng gần 4 tỷ đồng, tương ứng tăng 3,75% so với năm 2017. Sự tăng lên đó là do sự biến động của các yếu tố cấu thành nên tài sản dài hạn qua các năm tác động lên. Cụ thể, năm 2018 tài sản cố định giảm từ hơn 76 tỷ đồng xuống còn hơn 70 tỷ đồng (giảm gần 6 tỷ đồng), tương ứng giảm 7,65% so với năm 2017. Trong khi đó, các khoản phải thu dài hạn tăng gần 2,5 tỷ đồng, tương ứng tăng 20,38%; bất động sản đầu tư tăng từ 0 đồng (năm 2017) lên đến gần 4 tỷ đồng trong năm 2018; tài sản dở dang dài hạn tăng mạnh, tăng hơn 2,5 tỷ đồng (từ gần 600 triệu đồng năm 2015 lên đến hơn 3 tỷ đồng vào năm 2018), tương ứng tăng 443,98% và tài sản dài hạn khác năm 2018 tăng nhẹ gần 1 tỷ đồng so với năm 2019, tương ứng tăng 27,61%.
Tuy nhiên, đến năm 2019, tài sản dài hạn lại giảm so với năm 2018. Cụ thể năm 2019, giá trị tài sản dài hạn là hơn 101 tỷ đồng, giảm 12 hơn 7,5 tỷ đồng, tương ứng giảm 6,99% so với năm 2018. Các khoản phải thu dài hạn tăng nhẹ trong năm 2019, tăng hơn 1 tỷ đồng, tương ứng tăng 6,98% so với năm 2018; tài sản cố định tăng gần 6 tỷ đồng, tương ứng tăng 8,11%; các tài sản dài hạn khác tăng hơn 1 tỷ đồng, tương ứng tăng 27,11%. Tuy nhiên, tài sản dài hạn năm 2019 giảm so với năm 2018 chủ yếu là do khoản đầu tư tài chính dài hạn giảm từ 13 tỷ đồng (năm 2018) xuống còn 0 đồng (năm 2019).
Ngoài ra còn ảnh hưởng của sự suy giảm giá trị bất động sản đầu tư và tài sản dở dang dài hạn. Về tình hình nguồn vốn, qua 3 năm nguồn vốn công ty cũng có sự biến động lớn. Năm 2018 nguồn vốn của công ty tăng hơn 13 tỷ đồng so với năm 2017, tương ứng tăng 10,62% so với năm 2017. Năm 2019, nguồn vốn lại giảm hơn 6 tỷ đồng, tương ứng giảm 4,39% so với năm 2018.