Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nhanh chóng tại các đô thị lớn tạo ra áp lực tâm lý đáng kể đối với đời sống cư dân, thúc đẩy nhu cầu tìm về không gian thiên nhiên để tái tạo năng lượng và cân bằng thể chất. Song song với xu hướng này, việc chuyển đổi đất tự nhiên sang mục đích xây dựng đô thị làm suy giảm diện tích rừng và đe dọa các nguồn gen sinh vật quý hiếm. Để giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển, Nhà nước đã thành lập hệ thống các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, từng bước đưa hoạt động du lịch sinh thái vào khai thác nhằm tạo nguồn tài chính tự chủ phục vụ quản lý rừng, đồng thời nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường.
Vùng Đông Nam Bộ sở hữu 04 vườn quốc gia, trong đó có 03 vườn quốc gia trên đất liền gồm: Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát (Tây Ninh), Vườn quốc gia Bù Gia Mập (Bình Phước) và Vườn quốc gia Cát Tiên (nằm trên địa bàn 03 tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng). Mặc dù sở hữu tính đa dạng sinh học cao, cảnh quan độc đáo và hệ thống di tích lịch sử kháng chiến phong phú, hoạt động du lịch tại các vườn quốc gia này vẫn đối mặt với nhiều khó khăn: thiếu hụt kinh phí đầu tư, cơ sở hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ, nguồn nhân lực hạn chế về chuyên môn và ngoại ngữ, cùng với nguy cơ ô nhiễm môi trường do ý thức của một bộ phận du khách. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Thúy An được thực hiện nhằm phân tích thực trạng và tìm kiếm giải pháp phát triển bền vững cho du lịch tại các đơn vị này.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch tại vườn quốc gia để làm rõ tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch tại các vườn quốc gia ở Đông Nam Bộ; từ đó xác định định hướng và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy du lịch sinh thái trong vùng.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm ba nội dung:
- Tổng quan các cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến phát triển du lịch ở Vườn quốc gia.
- Phân tích những tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch ở các Vườn quốc gia tại Đông Nam Bộ.
- Định hướng và đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch các Vườn quốc gia ở Đông Nam Bộ.
Phạm vi nghiên cứu được xác lập như sau:
- Về không gian: Giới hạn tại 03 vườn quốc gia trên đất liền thuộc vùng Đông Nam Bộ, bao gồm Vườn quốc gia Bù Gia Mập (tỉnh Bình Phước), Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát (tỉnh Tây Ninh) và Vườn quốc gia Cát Tiên (thuộc địa bàn ba tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng). Vườn quốc gia Côn Đảo thuộc vùng biển đảo Bà Rịa – Vũng Tàu không thuộc phạm vi khảo sát chi tiết của đề tài.
- Về thời gian: Khóa luận sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp đánh giá hiện trạng trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2023. Các định hướng và giải pháp đề xuất có tầm nhìn đến năm 2030.
- Về nội dung: Nghiên cứu tập trung vào hai nguồn tài nguyên du lịch cốt lõi (tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa); phân tích hiện trạng hoạt động du lịch trên các phương diện: lượng khách, doanh thu, nhân lực phục vụ, cơ sở vật chất – hạ tầng kỹ thuật, tuyến điểm và dịch vụ du lịch, hoạt động xúc tiến quảng bá và mối tương quan giữa khai thác du lịch với công tác bảo tồn sinh thái.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lí luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành du lịch và khung văn bản pháp quy hiện hành:
- Khái niệm nền tảng: Du lịch được tiếp cận theo định nghĩa của L.I. Pirojnik (1985), Tổ chức Du lịch Thế giới UNWTO (1994), Hiệp hội Du lịch Đông Nam Á và Luật Du lịch Việt Nam 2017 (Điểm 1 Điều 3). Các định nghĩa về phát triển du lịch, tài nguyên du lịch (Điều 3 Luật Du lịch 2017) và sản phẩm du lịch (định nghĩa của UNWTO và Luật Du lịch 2017) được phân tích nhằm xác lập các thành phần cấu thành điểm đến du lịch sinh thái.
- Điều kiện và nguyên tắc phát triển: Nghiên cứu chỉ ra 05 nguyên tắc phát triển du lịch (bền vững, hòa nhập cộng đồng địa phương, bảo tồn văn hóa và môi trường, quản lý tiếp cận bền vững, tiêu chuẩn chất lượng) cùng các điều kiện cơ bản gồm an ninh chính trị, nền tảng kinh tế, chính sách Nhà nước, nhu cầu thị trường và tiềm năng tài nguyên.
- Khung pháp lý lâm nghiệp: Nghiên cứu viện dẫn Nghị định 156/2018/NĐ-CP (Điều 15 và Điều 24 quy định chi tiết thi hành Luật Lâm nghiệp về quản lý xây dựng công trình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng đặc dụng: không vượt quy mô công trình cấp IV, chiều cao khu nghỉ dưỡng dưới 12 mét, bảo đảm giữ nguyên vẹn cảnh quan vùng bảo vệ nghiêm ngặt) và Luật Lâm nghiệp 2017 (Điều 5, Điều 53, Điều 56 về phân loại 03 loại rừng và quy chế hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, du lịch sinh thái trong rừng đặc dụng).
- Tiêu chí đánh giá tiềm năng: Tác giả xây dựng Bảng tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá tiềm năng phát triển du lịch vườn quốc gia (Bảng 1.1) theo thang đo từ "Rất thuận lợi/Rất nhiều" đến "Không thuận lợi/Không có", bao gồm 04 nhóm nhân tố: vị trí địa lí, tài nguyên du lịch tự nhiên (đa dạng sinh học, cảnh quan, sông hồ), tài nguyên du lịch văn hóa (di tích lịch sử, lễ hội bản địa) và cơ sở hạ tầng, vật chất – kỹ thuật (giao thông, lưu trú, điện, nước, viễn thông).
Đề tài vận dụng 04 quan điểm nghiên cứu địa lí học chuyên sâu:
- Quan điểm lãnh thổ: Khái quát nét đặc thù về vị trí, sự phân bố tài nguyên của từng vườn quốc gia nhằm khai thác thế mạnh riêng biệt của từng địa bàn.
- Quan điểm lịch sử viễn cảnh: Đặt quá trình hình thành, biến đổi của các vườn quốc gia trong bối cảnh lịch sử cụ thể để phân tích thực trạng hiện tại và dự báo xu hướng tương lai.
- Quan điểm phát triển bền vững: Xem xét tính cân bằng giữa ba trụ cột kinh tế, xã hội và bảo vệ cấu trúc môi trường sinh thái, bảo đảm khai thác không làm tổn hại tài nguyên rừng.
- Quan điểm tổng hợp: Nhìn nhận du lịch là ngành kinh tế liên ngành, có mối liên kết hữu cơ với giao thông, lâm nghiệp, văn hóa và cộng đồng địa phương.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu, số liệu: Thu thập tài liệu từ giáo trình, luận án, tạp chí khoa học, báo cáo của Cục Lâm nghiệp; tiếp cận và xin số liệu thống kê thứ cấp trực tiếp tại Ban quản lý 03 Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát, Bù Gia Mập và Cát Tiên.
- Phương pháp thực địa: Tác giả trực tiếp khảo sát, ghi nhận thực tế và kiểm chứng thông tin tại các vườn quốc gia:
- Vườn quốc gia Cát Tiên: Khảo sát từ ngày 18/12/2023 đến ngày 22/12/2023.
- Vườn quốc gia Bù Gia Mập: Khảo sát từ ngày 09/01/2024 đến ngày 11/01/2024.
- Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát: Khảo sát từ ngày 12/01/2024 đến ngày 16/01/2024.
- Phương pháp phân tích SWOT: Đánh giá điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunities) và thách thức (Threats) riêng biệt cho từng vườn quốc gia trong Chương 2.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch tại Vườn quốc gia
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lí luận về du lịch sinh thái tại vườn quốc gia, bao gồm hệ thống khái niệm, điều kiện phát triển, tiêu chuẩn đánh giá tiềm năng và các nhóm nhân tố tác động (vị trí địa lí, tài nguyên, nhân lực, vốn đầu tư, công tác bảo tồn, cơ sở vật chất hạ tầng). Tác giả tổng hợp các quy định pháp lý ràng buộc trong Luật Lâm nghiệp 2017 và Nghị định 156/2018/NĐ-CP đối với hoạt động xây dựng công trình du lịch trong rừng đặc dụng.
Về cơ sở thực tiễn, chương này khái quát bức tranh lâm nghiệp Việt Nam với diện tích đất có rừng trên 14,7 triệu hecta, tỷ lệ che phủ đạt 42,02%. Tác giả dẫn chứng số liệu năm 2023 nhằm so sánh quy mô hoạt động du lịch giữa các vườn quốc gia trọng điểm quốc gia với các vườn quốc gia do địa phương quản lý:
- Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng: 661.216 lượt khách, doanh thu khoảng 264 tỉ đồng.
- Vườn quốc gia Côn Đảo: khoảng 586.000 lượt khách, doanh thu khoảng 2.000 tỉ đồng.
- Vườn quốc gia Cát Tiên: khoảng 80.000 lượt khách, doanh thu khoảng 17 tỉ đồng.
- Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát: 7.842 lượt khách.
- Vườn quốc gia Bù Gia Mập: khoảng 6.000 lượt khách, doanh thu khoảng 2 tỉ đồng.
Chương 1 cũng nhận diện những rào cản chung của du lịch vườn quốc gia tại Việt Nam: hạ tầng giao thông kết nối chưa hoàn chỉnh, thiếu hụt nước sạch vào mùa khô, dịch vụ lưu trú còn đơn sơ và lực lượng hướng dẫn viên chủ yếu là kiểm lâm kiêm nhiệm, hạn chế về kỹ năng diễn giải cũng như trình độ ngoại ngữ khi phục vụ khách quốc tế.
Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch tại các Vườn quốc gia ở Đông Nam Bộ
Chương 2 là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, phân tích khái quát lịch sử hình thành, quy mô địa lí, tiềm năng tài nguyên và thực trạng hoạt động du lịch tại 03 vườn quốc gia:
| Chỉ số quy mô |
VQG Lò Gò – Xa Mát |
VQG Bù Gia Mập |
VQG Cát Tiên |
| Địa bàn hành chính |
Tân Biên (Tây Ninh) |
Bù Gia Mập (Bình Phước) |
Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng |
| Tổng diện tích |
29.997,87 ha |
25.593,79 ha (vùng lõi) |
71.187,9 ha |
| Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt |
10.615,87 ha |
15.022,80 ha |
53.570,00 ha |
| Phân khu phục hồi sinh thái |
19.256,78 ha |
8.275,24 ha |
15.404,60 ha |
| Phân khu dịch vụ hành chính |
125,80 ha |
2.295,75 ha |
2.213,60 ha |
| Diện tích vùng đệm |
21.800 ha (hoặc 23.500 ha) |
18.036 ha (Bình Phước 10.036 ha, Đắk Nông 8.000 ha) |
183.479 ha (31 xã, 02 thị trấn) |
| Danh hiệu công nhận |
Vườn Di sản ASEAN (12/2019) |
Khu BTTN (1986), chuyển hạng VQG (2002) |
Khu DTSQ thế giới (2001), Khu Ramsar Bàu Sấu (2005), Di tích QG đặc biệt (2012) |
Về tài nguyên du lịch tự nhiên, tác giả tổng hợp đặc trưng kiểu rừng và tính đa dạng sinh học thông qua Bảng 2.1:
- VQG Lò Gò – Xa Mát: Gồm 03 kiểu rừng chính (rừng thưa rụng lá họ Dầu mang tính chất rừng khộp, rừng khô ngập nước theo mùa ưu thế tràm, rừng thứ sinh cây bụi trảng cỏ ven sông suối). Thực vật ghi nhận 934 loài (492 chi, 128 họ, 57 bộ, 06 ngành), có 02 cây di sản cổ thụ gồm cây dầu rái 269 tuổi (đường kính 2,2 m; cao 42 m) và cây vên vên 215 tuổi (đường kính 2,0 m; cao 44 m). Động vật có 580 loài (42 loài thú, 203 loài chim, 59 loài bò sát, 25 loài lưỡng cư, 128 loài côn trùng, 88 loài cá và 35 loài động vật đáy). Cảnh quan nổi bật gồm sông Vàm Cỏ Đông, vòm suối Đa Ha, trảng Tà Nốt, trảng Cỏ Nhân trần, trảng Sim.
- VQG Bù Gia Mập: Gồm 02 kiểu rừng chính: rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới (16.669 ha, chiếm 64%) với các ưu hợp họ Đậu, họ Tử vi, họ Dầu; rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới (9.645 ha, chiếm 36%). Thực vật có 1.114 loài (480 chi, 126 họ, 62 bộ, 05 ngành), nổi bật với các loài gỗ quý (trầm hương, giáng hương quả to, gõ đỏ, cẩm lai vú) và dược liệu (an xoa, kim ngân, nhân trần, bí kỳ nam). Vườn đã thành lập vườn quy tập phong lan với hơn 20 loài được định danh. Động vật có 832 loài (173 họ, 47 bộ, 06 lớp), gồm 85 loài thú, 235 loài chim (đợt khảo sát nhanh năm 2007 từng ghi nhận 11 mẫu vật loài mới). Địa hình sở hữu khoảng 20 thác ghềnh như thác Đắk Mai, thác Lưu Ly, thác Sông Bé, suối Đắk Ka và sông Đắk Huýt.
- VQG Cát Tiên: Gồm 05 kiểu rừng (rừng lá rộng thường xanh, rừng thường xanh nửa rụng lá, thảm thực vật ngập nước và bán ngập nước, rừng tre nứa thuần loài, rừng hỗn giao). Hệ thực vật có 1.610 loài (724 chi, 162 họ, 38 loài Sách đỏ Việt Nam) và hơn 400 loài nấm (dự kiến trên 1.000 loài). Hệ động vật ghi nhận 113 loài thú, 343 loài chim (31 loài Sách đỏ Việt Nam, 22 loài trong Sách đỏ IUCN), 130 loài cá, 94 loài bò sát, 37 loài lưỡng cư và 903 loài côn trùng. Cảnh quan nổi tiếng gồm Khu đất ngập nước Bàu Sấu, thác Trời, ghềnh Bến Cự và hệ thống sông Đồng Nai.
Về tài nguyên du lịch văn hóa (Bảng 2.2):
- Lò Gò – Xa Mát: Hệ thống di tích lịch sử cách mạng Trung ương Cục miền Nam gồm: Căn cứ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Căn cứ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Căn cứ Ban An ninh Trung ương Cục, Ban Tuyên huấn, Xưởng phim Giải phóng, Đài phát thanh Giải phóng, Thông tấn xã Giải phóng, Nhà in Trần Phú; giao lưu văn hóa với cộng đồng người Khmer.
- Bù Gia Mập: Di tích điểm cuối tuyến đường ống dẫn xăng dầu dài 5.000 km từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam, dấu tích kho xăng dầu, bếp Hoàng Cầm, sân bay quân sự Bù Gia Mập; khai thác du lịch cộng đồng gắn với tập quán của đồng bào S’tiêng và M’nông (nghề dệt thổ cẩm, đan lát gùi, nơm cá, lễ hội mừng lúa mới, lễ hội đâm trâu, cồng chiêng, tập tục thổi kèn lá).
- Cát Tiên: Văn hóa bản địa của người Mạ và S’tiêng (nhạc cụ cồng chiêng, trống, văn học dân gian); Di tích khảo cổ Cát Tiên và Căn cứ kháng chiến Khu VI Cát Tiên.
Về hiện trạng hoạt động và ma trận SWOT (mục 2.3 và 2.4):
Khóa luận phân tích chuỗi số liệu khách và doanh thu giai đoạn 2018 - 2023, phản ánh sự phục hồi sau dịch bệnh nhưng cũng chỉ rõ sự chênh lệch lớn giữa các điểm đến. Hoạt động du lịch chủ yếu là trekking xuyên rừng, ngắm chim, soi thú đêm bằng xe chuyên dụng (tại Cát Tiên), chèo thuyền trên sông Vàm Cỏ Đông (Lò Gò – Xa Mát) và cắm trại khám phá thác suối (Bù Gia Mập). Ma trận SWOT cho từng vườn chỉ rõ các thách thức: sức ép từ săn bắn động vật và khai thác lâm sản trái phép, ngân sách nhà nước cấp hàng năm còn eo hẹp, thiếu quy hoạch đồng bộ cho các dịch vụ phụ trợ và hoạt động quảng bá chưa tiếp cận mạnh mẽ tới thị trường khách quốc tế.
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tại các Vườn quốc gia ở Đông Nam Bộ
Chương 3 xây dựng các định hướng phát triển du lịch sinh thái đến năm 2030 cho từng vườn quốc gia dựa trên cơ sở pháp lý và điều kiện tự nhiên:
- Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát: Tập trung phát triển mô hình du lịch sinh thái kết hợp du lịch "về nguồn" thăm di tích lịch sử cách mạng, nâng cấp tuyến du lịch đường thủy trên sông Vàm Cỏ Đông.
- Vườn quốc gia Bù Gia Mập: Định hướng phát triển du lịch sinh thái mạo hiểm, trekking thác ghềnh kết hợp trải nghiệm văn hóa bản địa của người S’tiêng, M’nông và bảo tồn nguồn gen dược liệu, phong lan.
- Vườn quốc gia Cát Tiên: Giữ vững vị thế trung tâm du lịch sinh thái quốc tế, hoàn thiện đề án mở rộng diện tích quản lý thêm 11.409,5 ha (hướng tới quy mô 82.597,4 ha), nâng cao chất lượng dịch vụ quan sát động vật hoang dã và nghiên cứu khoa học.
Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp chi tiết:
- Đa dạng hóa và hoàn thiện sản phẩm du lịch đặc thù cho từng vườn, tránh trùng lặp.
- Đầu tư đồng bộ hạ tầng đường giao thông nội bộ, hệ thống cấp thoát nước, thông tin liên lạc và các trạm quan sát cảnh quan theo đúng quy chuẩn Nghị định 156/2018/NĐ-CP.
- Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ cho đội ngũ nhân lực, chuyển đổi tính chất kiêm nhiệm của lực lượng kiểm lâm thành đội ngũ thuyết minh viên du lịch chuyên biệt.
- Tăng cường liên kết với các doanh nghiệp lữ hành tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ để hình thành các tour liên tuyến.
- Đẩy mạnh công tác xúc tiến, quảng bá thông qua các kênh truyền thông số (website, mạng xã hội Facebook, Zalo) và liên kết với các đài truyền hình.
- Nâng cao hiệu quả giám sát bảo tồn môi trường rừng, kiểm soát tải lượng khách tham quan, xử lý triệt để rác thải sinh hoạt và phối hợp với cộng đồng vùng đệm trong tuần tra bảo vệ rừng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận tốt nghiệp đã lượng hóa và hệ thống hóa toàn diện các nguồn tài nguyên du lịch cùng thực trạng khai thác của 03 vườn quốc gia đại diện trên đất liền tại vùng Đông Nam Bộ:
| Nội dung dữ liệu |
VQG Lò Gò – Xa Mát |
VQG Bù Gia Mập |
VQG Cát Tiên |
| Đa dạng thực vật |
934 loài (06 ngành, 128 họ) |
1.114 loài (05 ngành, 126 họ) |
1.610 loài (162 họ, 38 loài Sách đỏ VN) |
| Đa dạng động vật |
580 loài (42 thú, 203 chim) |
832 loài (85 thú, 235 chim) |
113 thú, 343 chim, 130 cá, 94 bò sát |
| Lượng khách (năm 2023) |
7.842 lượt khách |
Khoảng 6.000 lượt khách |
Khoảng 80.000 lượt khách |
| Doanh thu du lịch (2023) |
(Được phản ánh trong chuỗi số liệu) |
Khoảng 2 tỉ đồng |
Khoảng 17 tỉ đồng |
Đóng góp của khóa luận được thể hiện qua các điểm chính mà tác giả đã khẳng định:
- Cập nhật nguồn số liệu thứ cấp giai đoạn 2018 - 2023 trực tiếp từ ban quản lý 03 vườn quốc gia, khắc phục sự lạc hậu về mặt dữ liệu của các nghiên cứu trước đây (như công trình của Nguyễn Văn Thuật năm 2005 hay Nguyễn Trọng Hiếu năm 2015).
- Tiếp cận nghiên cứu đồng thời cả 03 vườn quốc gia trên đất liền dưới góc nhìn địa lí học tổng hợp và so sánh không gian, thay vì chỉ tiếp cận đơn lẻ một vườn quốc gia như các đề tài trước đó.
- Kết hợp dữ liệu thứ cấp với dữ liệu thực địa trực tiếp thu thập vào cuối năm 2023 và đầu năm 2024 tại các vườn để đánh giá tính xác thực của dịch vụ hạ tầng.
- Đề xuất hệ thống giải pháp gắn chặt với đặc thù phân khu chức năng rừng đặc dụng và khung pháp lý lâm nghiệp hiện hành, định hướng phát triển bền vững đến năm 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu:
- Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu 03 vườn quốc gia trên đất liền, chưa thể bao quát Vườn quốc gia Côn Đảo – đơn vị vườn quốc gia hải đảo duy nhất của vùng Đông Nam Bộ.
- Tác giả tự nhận định do năng lực chuyên môn và thời gian có hạn, các phân tích về tác động sinh thái vi mô của du khách lên cấu trúc môi trường rừng tại các tuyến điểm lõi chưa được khảo sát chi tiết bằng các chỉ số sinh thái thực nghiệm.
- Hướng mở tiếp theo của đề tài là tiếp tục mở rộng điều tra định lượng về hành vi tiêu dùng và mức độ hài lòng của du khách; đánh giá sức chứa du lịch (carrying capacity) tại các điểm nhạy cảm sinh thái (như Bàu Sấu tại Cát Tiên) và hoàn thiện cơ chế chia sẻ lợi ích kinh tế với cộng đồng cư dân vùng đệm từ dịch vụ môi trường rừng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Địa lí học, Địa lí du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Lâm nghiệp và Quản lý tài nguyên môi trường tham khảo về phương pháp phân tích tài nguyên và cấu trúc bài khóa luận địa lí du lịch.
- Các nhà nghiên cứu quan tâm đến mô hình du lịch sinh thái gắn với bảo tồn thiên nhiên và di tích lịch sử cách mạng tại khu vực Đông Nam Bộ.
- Ban quản lý các vườn quốc gia và cơ quan quản lý du lịch tại Tây Ninh, Bình Phước, Đồng Nai tham khảo hệ thống dữ liệu kiểm kê tài nguyên tự nhiên (Bảng 2.1), tài nguyên văn hóa (Bảng 2.2), khung tiêu chí đánh giá tiềm năng (Bảng 1.1) và các nhóm giải pháp phát triển đến năm 2030.
Câu hỏi thường gặp
1. Đề tài giới hạn không gian và thời gian nghiên cứu cụ thể như thế nào?
Nghiên cứu giới hạn không gian tại 03 vườn quốc gia trên đất liền ở vùng Đông Nam Bộ gồm: VQG Bù Gia Mập (Bình Phước), VQG Lò Gò – Xa Mát (Tây Ninh) và VQG Cát Tiên (Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng), không khảo sát VQG Côn Đảo. Thời gian nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2018 – 2023; định hướng và giải pháp đề xuất có tầm nhìn đến năm 2030.
2. Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát có những tiềm năng nổi bật nào về mặt danh hiệu và tài nguyên lịch sử?
VQG Lò Gò – Xa Mát được công nhận là Vườn Di sản ASEAN vào tháng 12 năm 2019. Về lịch sử, nơi đây lưu giữ hệ thống di tích cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ gồm: Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (Di tích quốc gia đặc biệt), Căn cứ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Căn cứ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Xưởng phim Giải phóng, Đài phát thanh Giải phóng, Thông tấn xã Giải phóng và Nhà in Trần Phú.
3. Tuyến di tích kỹ thuật quân sự tiêu biểu nào trong kháng chiến chống Mỹ nằm tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập?
VQG Bù Gia Mập là điểm cuối của tuyến đường ống dẫn xăng dầu dài 5.000 km bắt nguồn từ miền Bắc dẫn vào vùng Đông Nam Bộ để phục vụ chiến trường miền Nam, cùng các dấu tích kho xăng dầu, bếp Hoàng Cầm và sân bay quân sự Bù Gia Mập.
4. Quy mô diện tích và các danh hiệu quốc tế, quốc gia quan trọng của Vườn quốc gia Cát Tiên gồm những gì?
VQG Cát Tiên có tổng diện tích 71.187,9 ha (bảo vệ nghiêm ngặt: 53.570 ha; phục hồi sinh thái: 15.404,6 ha; hành chính dịch vụ: 2.213,6 ha) và vùng đệm 183.479 ha. Vườn được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới năm 2001 (đổi tên thành Khu Dự trữ sinh quyển Đồng Nai năm 2011), vùng đất ngập nước Bàu Sấu được công nhận là Khu Ramsar thứ 1.499 của thế giới năm 2005 và được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt năm 2012.
5. Tác giả đã tiến hành khảo sát thực địa tại ba vườn quốc gia trong khoảng thời gian nào?
Tác giả tiến hành khảo sát thực tế tại VQG Cát Tiên từ ngày 18/12/2023 đến 22/12/2023; tại VQG Bù Gia Mập từ ngày 09/01/2024 đến 11/01/2024; và tại VQG Lò Gò – Xa Mát từ ngày 12/01/2024 đến 16/01/2024.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Thúy An đã phác thảo bức tranh toàn diện về tiềm năng tài nguyên và hiện trạng khai thác du lịch tại 03 vườn quốc gia trên đất liền vùng Đông Nam Bộ. Bằng việc kết hợp cơ sở lý luận địa lí học du lịch, khung pháp lý lâm nghiệp với số liệu thứ cấp giai đoạn 2018 - 2023 và dữ liệu khảo sát thực địa, công trình đã làm rõ nét tương đồng cũng như tính đặc thù sinh thái và văn hóa của từng điểm đến. Những phân tích khách quan về hạn chế hạ tầng, nhân lực và mô hình SWOT là cơ sở thực tiễn vững chắc cho hệ thống giải pháp định hướng đến năm 2030, hướng đến mục tiêu hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch và bảo tồn bền vững tài nguyên rừng đặc dụng.